TRÊN TRIỀN SÔNG Ô LÂU

By Hồ Sĩ Bình

 


(Tặng nhóm bạn Nguyễn Hoàng 64-71 cùng du xuân Hiến Thi Hữu Khôi Phước Hiền Cúc Dương Ngọc Thúy)



Đầu năm nay tôi có dịp đi dọc sông Ô Lâu một vùng đất mà nhièu lần qua lại chứ chưa có cơ hội để hiểu sâu sơn về vùng giáp ranh giữa 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Thú thật tôi thực sự ngạc nhiên về những nẻo đường làng quanh co những đình chùa miếu mạo những bến sông huyền hoặc khói sóng. Ẩn tàng sâu hút trong những thôn xóm yên bình dân dã là những tầng sâu văn hoá riêng biệt mà cổ kính khiêm tốn mà tự tin khép kính mà bình tâm như vại cho dẫu làn sóng đô thị hoá cứ chực chờ dòm ngó. Cái chợ Mỹ Chánh vẫn vậy xôn xao thị tứ bên quốc lộ mà quê kiểng vẹo xiêu như không thèm đếm xỉa tới thời gian tới biến động hừng hực quanh mình. Có người cứ bảo sao mà chậm phát triển sao mà cổ lổ sĩ đến vậy trong khi cuộc sống cứ lao về phía trước. Nhưng không hiểu sao trong nét cổ xưa ấy tôi lại tìm thấy bóng mình với một nỗi niềm an ủi. Nhớ ngày còn trẻ cùng người bạn về đây lục dưới tủ thờ trong căn nhà của Nguỵ Ngữ những trang viết đánh máy dở dang mà nhà văn còn bỏ lại. Nơi bến chợ này là bối cảnh những truyện ngắn đầy ray rứt ngập ngụa bi kịch ám ảnh của chiến tranh trong một không gian vang vọng những ý thức phản tỉnh đầy nhân văn cuốn hút bạn đọc miền Nam từ cuối thập niên 60 của nhà văn sinh ra trên vùng đất Ô Lâu đặc biệt là truyện ngắn Con thú tật nguyền được chuyển thể thành phim. Ngày ấy tôi còn nhớ đứng bên này cầu Mỹ Chánh nhìn ra bến sông chiều chưa kịp xuống mà nhìn đâu cũng thấy một không khí ngột ngạt chiến tranh


Năm bảy năm trước khi làng cổ Phước Tích gần đó còn là một làng cổ tôi về lại nhiều lần nằm đong đưa bên võng dưới mái hiên ngôi nhà cổ của người bạn đắm chìm trong không gian của hoa nhài hoa lan hoa bưởi hoa cau những ngõ làng còn trải cơ man là những mảnh gốm vụn dấu tích của một ngôi làng nổi tiếng là làng "độôc đôộc" bây giờ được xem là một địa chỉ du lịch đã bê tông nhiều thứ hàng quán ầm ào xe ngựa tự dưng nơi mình đã mất đi niềm say đắm thuở nào. Bởi vậy lần đầu về thăm người bạn gái cùng trường ở làng Hội Kỳ thật sự xúc động. Bạn đã sống hết đời của một công dân làm việc nhà nước ở thị xã Quảng Trị rồi bỏ hết chốn phù hoa về lại nơi ngôi nhà cổ xưa trong làng. Khu vườn rộng thênh thang nhiều hoa trái bạn chỉ sống một mình lặng lẽ giữa sương đêm. Cứ tưởng rằng chắc là bạn mình buồn bã lắm nhưng ngược lại suốt cả ngày bạn lạc quan vui vẻ trong những tiếng cười rộn rã đó chứng tỏ con người đã bỏ hết thị phi tuế toái của đời vì tìm thấy nỗi vô vi đốn ngộ nơi ngôi nhà của chính mình. Bạn trở lại ngôi nhà cũ còn để lo hương khói cho ông bà cha mẹ Thái độ và tâm trạng của bạn như còn phảng phất hình bóng của Nguyễn Trãi khi trở lại Côn Sơn : Thân xưa hương hoả chăng còn ước / Chí cũ công danh đã phỉ nguyền...(Thuật hứng-Quốc âm thi tập)




Năm nay tiết trời rét quá bạn chỉ tiếc vườn mai đại lão không kịp nở hoa để đón bạn bè.




Mô hình lập làng của Hội Kỳ có nét na ná Phước Tích vẫn quanh co lối xóm những hàng chè tàu những nhà vườn cây trái và những ngôi nhà cổ hằng trăm năm trầm tích tư lự neo bóng bên dòng sông khác chăng với Phước Tích là Hội Kỳ vẫn thế trăm năm nước chảy qua cầu Mỹ Chánh con người vẫn gìn giữ được nếp nhà xưa. Tôi thầm cám ơn thôn xóm hiền hoà này bởi đã đánh thức nỗi hoài cảm trong tâm hồn.





Chúng tôi gồm một nhóm bạn cũ của mấy chục năm về trước tóc ai cũng lấm tấm hạt đau của mây trời nhưng hình như suốt cả cuộc hành trình không bao giờ thiếu tiếng cười. Mấy người bạn tại chỗ chỉ con đường làng đi học ngày xưa bới cơm vừng khoai sắn đi về hơn hai chục cây số mùa mưa đường lầy lội rét căm căm mà nhóm học sinh con nhà nghèo chỉ phong phanh áo tơi lá thế mà vẫn kiên trì không vắng một buổi học nào. Rồi sau đó lên cấp 3 lại phải khăn gói cơm đùm gạo bới ra trường tỉnh học khốn khổ trăm bề nhưng vẫn đeo đuổi dù có người vì hoàn cảnh phải dừng lại giữa đường nhưng giấc mơ đèn sách vẫn luôn nuôi dưỡng trong lòng. Vùng đất học bên Ô Lâu rạng danh từ rất lâu khi cụ Bùi Dục Tài người ở Câu Nhi là người đỗ tiến sĩ từ thời vua Lê Hiển Tông đây là vị tiến sĩ khai khoa của xứ Đàng Trong. Ông từng thăng quan đến chức Tả thị lang Bộ Lại nhưng vì bản tính cương trực thẳng thắn nên đã bị gian thần hãm hại. Trên những con đường chân quê của mấy trăm năm trước bằng những khát vọng đầy trời những sĩ tử đời sau vẫn không ngừng chăm chắp bước tới để bây giờ làng Câu Nhi được dân gian gọi bằng một cái tên thật đáng tự hào : làng tiến sĩ. Tôi về làng nơi ngã ba sông nhìn ra bến chợ và dòng sông ngôi đình được dựng theo góc nhìn phong thuỷ truyền thống. Đình làng nghe nói được lập từ thời Lê sơ di dời về đây từ thời Tây Sơn rồi can qua chiến trận xây đi dựng lại trùng tu tôn tạo vẫn còn vương vấn một màu lịch sử của sáu trăm năm không ngừng biến động.




Đi dọc triền sông từ Lương Điền Văn Quỷ Hà Lỗ Đồng Dương Hưng Nhơn mỗi làng mỗi không gian quê kiểng riêng biệt. Có một điều dễ nhận ra cái chung nhất chính là ý thức lập vườn của con người. Nhà nhỏ nhà to thường có cổng ngõ chè tàu hồ nước hoa nhài hoa sói vườn cây trái xum xuê nên tâm tính người dân thiên về hướng nội dạt dào tình cảm. Thêm nữa về đây đi đâu cũng gặp sông. Sông Ô Lâu từ miền cao của Huế chảy ra quẫy một vòng cung uốn lượn theo hình con rắn ngoằn ngoèo để lại những ngôi làng như những ốc đảo Phước Tích Mỹ Xuyên Hội Kỳ trước khi về Mỹ Chánh gặp sông Thác Ma ( còn gọi là sông Mỹ Chánh) lượn lờ rồi xuôi ra biển.





Chia tay với Ô Lâu ở ngã ba sông ở làng Câu Nhi sông Mỹ Chánh mang một tên mới là Ô giang trôi xuôi một đường ra huyện Triệu Phong để gặp sông đào Vĩnh Định trong nỗi cô đơn không hề muốn cùng ai chia sẻ . Cuộc chia tay đầy quyến luyến không dứt để lại nơi ngã ba Câu Nhi những hẹn hò bên lở bên bồi và những bến đò ở hạ nguồn dằng dặc với những tình sử miên man buồn thảm một thời Trăm năm còn lỗi hẹn hò/ Cây đa bến cộ con đò khác đưa. Và trên dòng sông mênh mang thơ mộng này biết bao câu hò điệu lý đầy mô tê của một vùng xứ sở đa đoan thế sự hình thành một nền văn nghệ thấm đẫm màu khói sóng. Có một nhạc sĩ tài hoa đã âm thầm lên đường mang nặng tâm thức hoài vọng của tình yêu tuổi trẻ và đất nước để những dòng nhạc dù kinh qua khói lửa chiến tranh vẫn mượt mà biêng biếc màu xanh của những dòng sông quê nhà. Tác giả của nhũng tình ca bất hủ như Lời người ra đi Sơn nữ ca từ Mạc tư Khoa nghe câu hò xứ Nghệ.. đó là Trần Hoàn.





Sông Ô Lâu ngày tôi về tháng giêng non trời đất dòng sông một màu xanh thẳm để đất trời như bát ngát sâu hút hơn. Trong nỗi niềm yên ba thâm xứ tôi chợt nhận ra trong màu nước trong xanh kia đấy hình như còn in bóng những giấc mơ lập thân của những bậc tiền nhân những người đi trước nghĩa khí ngất trời. Hẳn nhiên là thế bởi ngày trước giao thương chủ yếu bằng đường thuỷ cho nên trên những quảng sông này một thời vang bóng của khách thương hồ xuôi ngược mua bán. Hệ quả để lại là vô số những bến đò những đình làng bãi chợ những ngôi nhà vườn quay mặt về hướng sông. Lịch sử đã đi bằng những tháng năm dài những xôn xao sông nước đã không còn để lại những con đò lơ thơ giăng mắc trên bến vắng.





Ngược qua Ô giang lên bến đò Hà Lỗ ghé thăm người bạn gái cùng lớp. Khác với người bạn ở Hội Kỳ bạn từng có nhiều năm bươn chải mưu sinh chốn thị thành nhưng rồi tai nạn gia đình bao nhiêu gánh nặng đè lên vai một phụ nữ yếu đuối không còn cách nào khác đành phải khăn gói quy cố hương rồi bạn được địa phương bố trí đi dạy trường làng. Ngôi nhà của bạn tuy đơn sơ mà ấm cúng trong vườn trồng rất nhiều chè và cây trái. Trong đôi mắt và những câu chuyện đời của bạn có lẽ đã qua đi thời tăm tối. Bạn vốn là người đa cảm có lẽ vì cảm động nên nước mắt rưng rưng. Có một nhà văn nói đúng : Chỉ có con người phụ bạc quê hương nhưng quê hương luôn thuỷ chung cứ mãi chờ ta...Đối với trường hợp bạn quê nhà đích thực là nơi chốn để nương nhờ. Chia tay mà lòng cứ bịn rịn.





Nhóm bạn chúng tôi trải qua những biến cố chiến tranh vì hoàn cảnh thời cuộc nên có người bên này bên kia chiến tuyến thế nhưng gặp lại nhau chao ơi là thắm thiết như thể chưa hề có những khoảng cách. Hình như với những ai sau những trải nghiệm đầy giông bão cuộc đời điều còn lại là tình yêu thương một tình bạn đã gắn liền khúc ruột được chắt chiu từ một ký ức xa thẳm không ai có thể chia lìa. Gabrien Market nói đúng : Người ta già nua không phải vì thời gian tuổi tác mà già nua chỉ đối với những ai không còn yêu thương được nữa...Có lẽ chính tình cảm bạn bè được khơi gợi và bộc lộ chân thực nên suốt cuộc hành trình những người bạn sau nhiều năm gặp lại thấy mình như tuổi đôi mươi tâm hồn như bay bỗng trên sông nước.





Buổi chiều bên dòng Ô Lâu dưới bóng cây đa cổ thụ có người bạn thể hiện một mong ước mà ai cũng chia sẻ rằng bạn sẽ về dựng một ngôi nhà bên sông trồng rất nhiều cau mà phải là giống cau quê cây vừa cao hoa vừa thoảng hương thanh khiết. Cau quê còn là nơi chim sẻ về làm tổ buổi chiều tối bầy chim sẻ trở về ríu rít xôn xao cả một khoảng không nghe mới tuyệt làm sao...


H.S.B

More...

CÀ PHÊ - MỘT ĐỜI

By Hồ Sĩ Bình

Tạp bút

 

Đã có một văn hoá cà phê Việt nghĩa là đã hình thành lưu giữ những giá trị tinh thần và thói quen đặc trưng từ quy trình sản xuất chế biến cho đến phong cách nề nếp thưởng thức cà phê trong đời sống người Việt một xứ sở sản xuất Cà phê đứng vào hạng thứ hai trên thế giới chỉ sau Brasil. Và mỗi người mỗi thời mỗi thế hệ đều có những thói quen thưởng thức cà phê theo phong vị khác nhau. Dấu ấn của thời gian bao giờ cũng mang theo một không gian tâm cảm ở mỗi người để góp phần tạo nên giá trị chung của văn hoá trên con đường cà phê Việt.

 

Tôi là người nghiện uống cà phê mấy chục năm từ cái thời còn học trung học cứ tính sơ sơ mỗi ngày một cử mà nhân lên thì không biết bao nhiêu mà tính. Mỗi giai đoạn trong đời người nghiệm ra có một nhu cầu và cái thú cái cách thưởng thức cũng khác nhau. Thời còn trẻ nhiều khi cà phê như một liều thuốc kích thích hưng phấn cho đỡ buồn ngủ để học thi. Thời sinh viên thì cà phê như một không gian lãng mạn tình tự của trai gái hay cái kiểu nghĩ suy cà phê một mình thích đếm từng giọt đắng ở cái tuổi còn mơ mộng đầy trời. Thời trước người ta thích uống cà phê phin chứ không như bây giờ do cuộc sống hối hả cuốn hút hơn với công việc nên nhiều người thích chọn lối pha sẵn nhanh mà tiện lợi. Bởi thế mới có cái từ “nhâm nhi” cũng do cái thú nhìn và đợi từng giọt rơi xuống đáy cốc thích dây dưa tâm tình cũng như thích mùi thơm bốc ra từ cái phin. Thời ở Huế trước năm 1975 bọn sinh viên chúng tôi vẫn thường tụ họp túm tụm ở quán chị Giang sau lưng Tổng Hội sinh viên Huế. Nơi ấy có giàn hoa giấy cao lớn toả bóng mát cả một khoảng sân sau. Nhiều người đến ngồi đây thời gian còn nhiều hơn ngồi ở thư viện giảng đường Nhưng chính trong một không gian chật hẹp của giới trẻ thời đó theo từng nhóm đặc biệt là nhóm văn khoa anh em được tiếp thu nhiều điều không có trong sách vở nhà trường mà chỉ có trên cái bàn vuông vức đủ mấy người ngồi với những câu chuyện văn chương nghệ thuật đầy hơi thở ngột ngạt cuộc sống của một đô thị vùng tạm chiếm. Thời đó thỉnh thoảng tôi mò đến mấy nơi mà một số danh sĩ Huế thường có mặt như Trịnh Công Sơn Ngô Kha Đinh Cường Lê Thành Nhơn Lê Khắc Cầm Bửu Ý..nào là quán cà phê Dung quán trước Đại Nội trước trường Mỹ thuật quán mệ Tôn Lạc Sơn… Thời đó giới nhà giáo và văn nghệ sĩ là những người thích ngồi quán nhất. Những câu chuyện thời cuộc văn chương sáng tác cả những chuyện trên trời dưới đất mình đến cũng chỉ ngồi nghe lóm để học thêm một vài điều. Huế là vùng đất của cà phê nên cái thú ngồi quán là một thói quen không thể thiếu. Nhiều đêm mất ngủ lang thang một chặp lại mò ra bến xe nơi vẫn còn hiu hắt chập chờn suốt đêm mấy ngọn đèn hàng quán.

 

Thói quen ấy mang theo vào Đà Nẵng những đêm mơ về sáng lại lọ mọ vào chợ Cồn ngồi cà phê Xướng nhìn xem chợ búa tinh mơ khởi động. Người ta nói đúng muốn tìm hiểu văn hoá của một vùng đất trước tiên cứ đến cái chợ. Ở chợ Cồn trước khi vào cà phê Xướng bạn đã ngửi thấy mùi của hải sản được tập kết vào chợ khi mọi người chưa nhìn rõ mặt nhau cái mùi tanh của tôm cá còn tươi ròng hơi hướng của trùng khơi chỉ có ở một thành phố biển.

 

Lên Ban Mê thuột cũng thế trời chưa sáng ngồi thu lu bên chợ nhìn những chiếc xe thồ chở đầy cây trái đồ lơ ghim còn thơm mùi đất đai cây cỏ. Hình ảnh những người phụ nữ Ê Đê Mơ Nông gùi măng rừng chuối bắp đứng túm tụm một góc chợ tạo nên nét hoang dã của núi rừng.

 

Cái cảm giác đó được mang theo vào Sài Gòn chao ôi ngồi ở ngã tư Bảy Hiền nhìn những chiếc xe ngựa thồ cuối năm mang theo những sản phẩm từ đất đai Nam bộ lọc cọc tiếng lạc ngựa trên đường về trung tâm thành phố. Sau này vì nghề nghiệp hay xuôi ngược đây đó cứ đến một nơi lạ trời chưa sáng đã vùng dậy bay ra khỏi khách sạn tìm cho được một quán cóc để ngồi để cảm nhận cái cảm giác tinh khôi bàng bạc mơ hồ nơi thành phố lạ như một khám phá bước đầu. Bởi thế đôi khi khó chịu nhất là ở các tỉnh ở miền Bắc (từ Quảng Bình trở ra) gần khách sạn ít khi có quán nào mở sớm chỉ biết lang thang chờ người ta mở cửa.

 

Lên Đà Lạt mê một bài thơ của Phạm Công Thiện mà phải đi bộ lên dốc đến cà phê Tùng và có lần đêm mưa nằng nặc với người bạn học Chính trị kinh doanh Đà Lạt vào cho được Lục Huyền Cầm của Lê Uyên và Phương. Ở xứ ngàn hoa trong sương lạnh những ông già ăn bận theo kiểu công chức thời thuộc địa còn sót lại mũ phớt với áo blouson áo vest mang dày láng ngồi yên lặng ở một góc quán ta như gặp lại ký ức của một thời xưa cũ.

 

Lần đầu vào Sài Gòn cũng mon men tìm đến La Pagode Brodard Givral chiêm ngưỡng mấy nhà văn học đòi các nhà văn Pháp như Jean Paul Sartre Andre Gide.. ngồi viết tiểu thuyết ở cafeteria; hay lên cà phê Nắng Mới ở dốc cầu Trương Minh Giảng nơi ngồi đồng của sinh viên Vạn Hạnh cùng các thi sĩ trẻ mới nổi ở Sài Gòn quần cư tụ hội.

 

Mới đây lên Blao cũng bắt đứa bạn cùng khoá ở Huế đưa đến nơi mà ngày xưa Trịnh Công Sơn ngồi ở quán ông già Tây nhìn đàn bò vào thành phố. Bạn cười mày là thằng lãng mạn lỡ thời bây giờ còn đâu thôi đi nhậu đi… Từng dạy học ở Tây nguyên những năm đầu mới Giải phóng. Nói nghe buồn cười vương quốc thủ phủ của cà phê mà quán xá lại ít mấy cửa hàng quốc doanh thì bán gì gì toàn đậu xanh bắp rang pha tạp chẳng có mùi vị gì cả. Thời bao cấp cà phê được gọi là vàng đen là hàng quốc cấm dành để xuất khẩu . Nhưng đúng vào thời điểm khó khăn đó tôi lại được uống những tách cà phê ngon nhất trong đời. Lúc ở Buôn Hồ vào mấy nhà phụ huynh có rẫy cà phê từng làm việc với mấy chủ đồn điền Pháp thời trước chiêu đãi. Ly cà phê được pha chế một cách nhà nghề thơm phưng phức. Hương đậm đà lan toả cả không gian đủ làm thức dậy những nỗi niềm. Cà phê cũng như trà đạo có những người sành điệu thưởng thức cà phê như một cái đạo. Quy trình pha chế công phu đến từng công đoạn. Cà phê hạt phải thuộc loại nhất ( loại chín đỏ đều khi hái) đem rang trên một cái chảo nhỏ mỗi khi chỉ một nhúm lửa phải đỏ rực tay phải trộn đều cho đến khi 2 cổ tay nóng bỏng mới thôi. Phải biết canh lửa thật kỹ. Khi cà phê chín toả mùi hương mới đổ bơ và một ít rượu chát khuâý đều. Hạ chảo xuống đổ ngay vào một tấm vải hoặc giấy báo ủ lại theo kiểu ém mùi thơm. Muốn cà phê ngon thì chỉ khi nào uống mới đem xay rồi mới pha chế. Chén tách phải là đồ gốm sứ sau khi bỏ cà phê vào phin tráng qua một chút nước sôi cho đủ ngấm lúc đó mới chế nước sôi vào chế đầy mặp phin để giữ độ nóng vì thế chỉ cần lượng cà phê lọc ra vừa đủ là uống. Dân ghiền coi cái thứ vàng đen là đạo rồi thì họ còn muốn nghe cái ẩm thanh nhỏ giọt lóc bóc trong tách thi thoảng mở nắp phin để nghe dậy ngát lên mùi thơm. Nghe nói cà phê trước Bưu điện Huế người ta còn trộn xay thêm xác cau cho đậm đà một số nơi khác người ta trộn thêm vơ ni cho thơm có nơi lại trộn thêm nước mắm nhĩ để tăng mùi hay muối đậu xanh để cho ra những hương vị khác nhau. Nhưng những ai đã coi là đạo rồi thì cà phê nhất định phải thuần hương vị tự nhiên nên họ không chịu nổi. Lần đầu nếm cà phê chồn mới biết con chồn là loại siêu hạng sành điệu hơn mọi thứ sành điệu. Đơn giản là mùa cà phê chín chồn tinh ranh leo lên cây và chọn những quả chín nhất ngọt nhất để ăn rồi tiêu hoá thành một sản phẩm hảo hạng mà thôi. Nhiều buổi sáng mờ sương ở Tây nguyên ngồi trên chòi nhìn xuống đồi cà phê cứ theo dõi mấy con chồn chạy nhảy trên cành cây tức thì sau đó chạy xuống tìm dưới gốc cây là có cà phê chồn. Những lần về xuôi trong ba lô luôn có những món quà đặc sản này để mời với bạn bè. Sau này khi cà phê trở thành đại trà chế biến theo kiểu hàng loạt đến quán chỉ như một thói quen thèm một không gian quen một chỗ ngồi thân thuộc. Có người bạn mấy chục năm chỉ quen một chỗ ngồi ở quán cóc đầu ngõ không chịu di dời đi một chỗ nào khác. Thế mà định cư ở nước ngoài lạ ghê có bao điều để nhớ lại thắc thỏm bồi hồi về cái chỗ ngồi thường nhật ấy. Đã thành thường lệ chiều 30 cuối năm sau khi sắp xếp xong công việc chuẩn bị Tết nhất trong nhà một mình kiếm góc cà phê nhâm nhi nghĩ ngợi mông lung chuyện được mất của một năm. Có khi trống vắng quá chạy ra bến xe ngồi uống cà phê nhìn người ta nôn nao hối hả lên xe về quê rồi bỗng dưng như Đỗ Trung Quân lại bùi ngùi phản tỉnh mình quê quán đâu mà trở về…

 

Cà phê Việt Nam chủ yếu có 2 loại chính : Abubica và Robusta. Thổ nhưỡng khí hậu của Buôn Mê Thuột phù hợp để gieo tròng giống thứ hai này.Và cà phê Buôn Mê Thuột chiếm tới 90 % tổng sản lượng của cả nước. Ngay nay vì phát triển thương hiệu cà phê Việt phù hợp với cuộc sống hiện đại và xuất khẩu nhiều công ty sản xuất cho ra nhiều thứ cà phê uống nhanh đóng lon chế sẵn. Dù chưa dễ để hội nhập thi thoảng tôi vẫn dùng loại cà phê pha sẵn này uống từ một mặc cảm bởi từ trước đến giờ thứ vàng đen của xứ sở đã bị những doanh nghiệp nước ngoài xây dựng thương hiệu và kiếm lời bằng thứ nguyên liệu từ công sức lao động của người Việt. Uống trong nỗi tự hào vì ngày nay trên con đường cà phê Việt chúng ta đã thực sự xây dựng một thương hiệu mạnh dựng dậy quyết tâm ‘cái gì của Caesar hãy trả lại cho Caesar’ nhưng đôi khi trong vị giác vẫn còn quyến luyến bồi hồi cái không gian tâm cảm từ một hương vị thuần khiết đậm đà đặc quẹo của cà phê Việt một thời đầy sương khói.

 

HSB

More...

QUÊ QUÁN ƠI!

By Hồ Sĩ Bình

More...

THƠ ĐINH TẤN PHƯỚC...

By Hồ Sĩ Bình

 
 

Thơ Đinh Tấn Phước
-Chạm vào bóng mình thấy bóng vẫn thức


 Hồ Sĩ Bình


              
Tập thơ Chạm bóng(*) của Đinh Tấn Phước vừa được Ủy Ban Toàn Quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam trao giải C năm 2009... Thực ra với những nhà thơ đích thực thì sáng tác không phải vì mục đích là được giải dù là một giải thưởng có giá trị. Với Phước cũng thế thơ  với anh là một tín niệm nhằm hoá giải những vui buồn trần thế để bày tỏ nghĩ suy khi một mình đối bóng. Nhưng ở một góc độ khác thì giải thưởng cũng là một thước đo giá trị và chỗ đứng của tác giả trên thi đàn nhất là đối với người mà thời gian đến với thơ chưa lâu lắm như Phước.

               
Đinh Tấn Phước là một người rất trung thực. Trong cuộc sống anh không hề chịu nổi sự giả trá đầy ngụy tín sự lừa lọc và những thói hư tật xấu tham ô đồi bại. Và hầu như suốt đời của một công dân anh luôn chống đối tất cả sự xấu xa đê hèn mà mình phải đối mặt. Có những lúc anh phải trả giá cho sự trung thực và lòng dũng cảm. Nhưng anh luôn nuôi dưỡng một niềm tin kiên định và tuyệt đối vào những điều tốt đẹp để vượt qua tất cả. Câu ngạn ngữ của văn học Pháp rất ư là cũ Le style est l homme nhưng đối với Phước thì hoàn toàn hợp lý. Thơ cũng như người cũng thế tôi độc hành / khập khềnh gió bụi...Hỡi trụ đá / chống trời / Ganesa.


Anh lãng du qua cuộc đời bằng nỗi cô đơn sâu thẳm nhưng vẫn tự mình nhắn nhủ như một thiên chức là trụ đá chống trời ngẩng cao đầu mà bước tới không thể khác đi được. Những uất nghẹn đắng cay gặp phải trong đời riêng bật dậy trong thơ Phước là nỗi suy tưởng trầm sâu nội cảm đầy nhức buốt. Trước những di tích công trình kiến trúc lịch sử vĩ đại như Thiên An Môn nhà thơ bỗng trở mình với khoảnh khắc vong thân đốn ngộ:  Chắp tay / một tiếng Di Đà /Về xin khổ hạnh / ta bà /chốn tu. Khổ thơ kết trong bài Thiên An Môn xoay trở một cách lạ lùng có lẽ chỉ có thơ bằng hàm súc của sự nén lại nỗi trầm tư để đẩy ý thơ về một phía khác phía của nhân sinh tự cổ để giải thoát để chiêm nghiệm bằng ý thức phản tỉnh quay về nơi chốn nương thân.


Kẻ độc hành bị ám ảnh bởi nỗi buồn nhân thế nhìn ánh trăng thơ mộng của trời đất cũng ngậm ngùi xa xót giữa chân- giả hư- thực ngoài- trong lập lờ:  Xẻ đôi vầng trăng / mặt ngoài trăng thật / trong chỉ đá thôi / nhưng không có đá lấy gì làm trăng thật / giữa bời bời.../ vẫn khác đá của trăng. Cũng thế đôi khi trong cuộc viễn hành dừng chân lại đâu đó nhìn trăng Quy Nhơn những đụn cát biển Bắc trời thu Hà Nội Mỹ Sơn phía Tây lầu Ngọ Môn... anh cũng quay về nơi hố thẳm trầm tư của phận người. Đọc thơ Đinh Tấn Phước ta như đứng trước một tấm lòng sâu nặng đa đoan với nhân nghĩa cuộc đời sống hay không sống được mất luận suy ngụp lặn giữa bời bời bể dâu.

             
Về tình yêu cũng nằm trong logic thiên hướng tâm hồn của thi sĩ. Nhân vật nữ trong thơ đôi khi chỉ phảng phất bay lượn lan toả trong sương mờ không rõ ràng nhân ảnh chỉ xuất hiện như một niềm an ủi chìa tay cứu rỗi mềm ướt đôi môi buông lời phủ dụ như một người lỡ bước chân qua khung cửa hẹp. Tôi cố giữ / Dù không giữ nổi / Kiệt sức mình  / Biết rằng em không bao giờ / có thật..( VÀ EM) Hay Chút cỏ dại lăn tăn bờ / Xa lắc / Phía bờ Nam không với tới bờ em / con sóng vỗ /  thương cho mình / khoảnh khắc...

Nhưng chính những khoảnh khắc ấy giúp con người qua sông quay lại là bờ  là giây phút thăng hoa giữa tục lụy bụi đời giúp ta mội chút bình tâm mà níu lại.


Thơ Đinh Tấn Phước là thơ của một con người luôn cõng trên vai mình một tảng đá  lớn của nỗi cô đơn trầm thống của một kẻ lưu đày. Nên nhà thơ vịn lấy những tình yêu đôi lứa mong manh nhạt nhoà để mong tìm thấy một phút giây tương ngộ hòng quên đi phiền muộn. Và quê nhà cũng thế như ôm lấy ký ức xao xác cả một miền tâm tưởng.. Bây giờ nụ cười đã khác / mùi phấn son cũng khác / chỉ có cỏ còn nguyên /màu đắng /chim áo già / vẫn cất giọng chàm nâu... Cả một khổ thơ gợi lại những hình ảnh ngọt ngào bay bỗng từ ký ức xưa cũ ấy bỗng trầm xuống như một nốt lặng đau đớn và thảng thốt bằng 2 từ: Màu đắng. Ngắn gọn bất ngờ đột ngột nhưng chan chứa nỗi niềm.


Trong thi pháp của Đinh Tấn Phước cảm xúc được thể hiện bằng một ngôn từ rất chắt lọc. Chữ từ nén lại rất kiệm lời nhưng sức gợi lại lan tỏa đặc biệt ở những câu thơ nặng chất suy ngẫm. Có thể phảng phất đâu đó một chút Văn Cao có lẽ từ sự đồng cảm của đời riêng nhưng thơ của anh vẫn tạo ra một giọng điệu riêng không lẫn.Thơ là một quá trình  khám phá hiện thực trong chiều sâu của suy cảm nhưng vẫn tạo ra sự rung động bởi những hình ảnh được chọn lựa rất đặc trưng. Cuộc vui xưa một nửa cũng đang già / đứa giao liên đứa du kích làng xa / bỏ tổ chim treo / đọt tre ngà / ở lại... Nhịp điệu và hình ảnh quyện vào nhau theo một giọng kể rã rời buông lững.

           
Nếu chọn một bài thơ tiêu biểu cho cái tạng của nghệ thuật thơ ca Đinh Tấn Phước tôi sẽ chọn bài Bóng thức... Thế là hạnh phúc.Muộn. / hóa ra nó giản đơn / ở phía bên kia thời gian / vốn là hạt bụi / anh bắt được qua ánh mắt em / sau những đêm dài / bóng thức... Hình như đan xen giữa những buồn vui của kiếp người tất cả tưởng như mỏng manh quá đổi thời gian rồi cũng chỉ là hạt bụi bến đỗ đời ta chỉ nương nhờ vào ánh mắt em. Lãng mạn đấy nhưng không đằng sau cách diễn đạt ngắn gọn đấy vẫn muốn gởi đi một cảm thức rằng ta vẫn thao thức giữa chốn phù hoa đầy hệ lụy vẫn phải sống bằng một xác tín vào những điều tốt đẹp vì thế anh càng yêu cuộc đời hơn theo cách nói của Herman Hesse : Dù đau đớn ta vẫn yêu điên dại trần gian này.


-----------------------------------------------------

(*)Chạm bóng.NXB Văn học. Hà Nội. 2009.



 

Bến đợi


Trong hành trang của anh     

có một bến sông

miên man

dập dềnh ngấn nước

tiếng đò khuya ai gọi           

đêm tinh khiết

mơ hồ

nhánh sông xưa

neo vào lòng anh

chỗ đợi

sóng vẫn đưa

mà lòng vấp ngã

khản giọng gọi đò

anh sương giá

đợi em


More...

Những cuộc "chơi cho vui"

By Hồ Sĩ Bình

More...

tạp bút

By Hồ Sĩ Bình

 

                    Những viên bi dưới gốc phượng già

   

                                        Tạp bút của Hồ sĩ Bình


         Quán café vỉa hè nằm góc phố.Buổi sáng chủ nhật anh thường đến ngồi nhâm nhi.Cũng chẳng phải café có mùi vị  đặc biệt nhưng chỉ vì tại đây có một cây phượng  tỏa bóng với những chiếc lá nhỏ li ti bay đầy trước mặt và chỗ ngồi yên tĩnh ít người để nhìn phố xá người qua kẻ lại. Cả dãy vỉa hè đều đã lát gạch .Cây phượng  đã lâu năm thân to lớn nên rễ vồng cao lên khỏi lề đường những nhánh rễ lớn ăn vào tận hiên nhà vô tình tạo ra một khoảng đất trống xung quanh gốc.Lần nào cũng thế một đám trẻ nhỏ chừng 7 8 tuổi  tranh thủ ngày nghỉ chụm lại chơi bi trên vuông đất bé tí ấy Chúng đào lỗ rồi thay nhau bắn bi rất hào hứng vô tư.Khuôn mặt đứa nào cũng căng thẳng đến buồn cười.Nhìn áo quần là biết đám trẻ con nhà nghèo. Nhà nghèo nên thời buổi này mà còn chơi bi. Giờ này lứa cùng tuổi chúng chắc được cha mẹ đưa đi chơi ăn sáng hay ở công viên .Còn không thì ngồi vui đùa với mấy cái trò chơi điện tử rồi ..

       Dễ chừng lâu lắm mới gặp lại hình ảnh này những khuôn mặt hí hững nao nức lăn tròn theo những viên bi .Tưởng có lúc đã quên nên bất chợt lòng lại chao gợn bần thần nhớ đến cái thời khi mình còn bé.Cũng dưới những góc phượng phía sau sân trường.Những viên bi trong trẽo có hình trái khế xanh đỏ vàng tím đủ màu xoay tít mỗi lần có đứa nào bơm vào lỗ.Tiếng kêu khẽ khàng  khi hai viên  bi chạm vào nhau trong nỗi phấn khởi khi bắn  trúng bi của đối thủ .Những viên bi lấm láp đất bụi sân trường đựng đầy trong túi quần và tuổi thơ nơi thị trấn nhỏ ngày nào chao nhẹ như tiếng thở dài về nơi xa biếc cỏ thơm

       Bà chủ quán sợ đám trẻ con làm ồn nên đã vội đuổi chúng đi .Đám trẻ bỏ đi một lúc đợi khi bà chủ quay lưng vào chúng lại tranh thủ đến  chơi bi tiếp.Chơi gấp gáp vội vã trong cái thế đợi người ta đuổi đi .Bà chủ đuổi đi đuổi lại vẫn không ngăn được bọn trẻ với niềm vui khiêm tốn của ngày nghỉ cuối tuần Chừng như thấy anh nảy giờ vẫn ngồi theo dõi bà chủ quán vừa đuổi vừa quay lại phân bua : Bây giờ hết đất trống rồi cả con phố mà chỉ còn khoảng  đất dưới gốc phượng  này nên ngày nghỉ bọn trẻ xúm lại..Rõ khổ.Dãy vỉa hè người ta trồng nhiều cây nhưng nhìn kỷ thấy chẳng có gốc cây nào có rễ lòi lên lề đường hèn chi tụi nhóc vẫn cứ quay về gốc phượng già.

        Bây giờ phố xá nhà cửa người ta chia lô xây nhà ống liền kề nên đúng là kiếm một khoảnh đất nền thật không phải dễ. Mà không phải chỉ có chơi đánh bi nếu không muốn nói hầu như tất cả những trò chơi của trẻ nhỏ ngày xưa đều gắn với đất cả.Nhảy dây đánh đáo cò cò chơi ô ăn quan đá bóng đuổi bắt. ù mọi..Trò chơi vợ chồng với những vòng hoa ngũ sắc làm nhà dưới những vòm cây óng vàng dây tơ hồng những cánh diều thả trên triền đê trên những cánh đồng lộng gió đều gắn bó với đất . Đấy là đất mẹ ấm áp đong đưa với những trò chơi khó thể nào quên neo đậu xốn xang trong tâm khảm những khi ngồi một mình giữa chốn phù hoa  xa lạ.Mà có phải vì gắn với đất nên những đứa trẻ ngày xưa lớn lên đi xa luôn nhớ về mùi đất quê ấy. Và biết đâu nụm nịm trong những trò chơi là bước khởi đầu cho một thứ tình cảm có tên là tình yêu đất nước... Hay vì thiếu đất  mà trẻ nhỏ ở thành phố không còn cơ hội để có những trò chơi gắn với đất nữa

       Đám trẻ nhỏ bên gốc phượng già lần nữa bị đuổi đi mang theo những viên bi trong trẽo lơ thơ lất thất như một đám tàn binh trông mới lạc lỏng làm sao.Trên vuông đất  trống ấy bây giờ đã lấm tấm những lá phượng vàng nhỏ xíu vừa rụng xuống hờ hững vô tâm

More...

Nghệ nhân cuối cùng của tranh Hàng Trống

By Hồ Sĩ Bình

 

            
Nghệ nhân cuối cùng của tranh Hàng Trống

                                                     Hồ sĩ Bình


              Giữa một không gian đông vui người qua kẻ lại của một Festival làng nghề Việt được tổ chức tại Đà nẵng trong một ngôi nhà tranh vắng lặng đầy ắp tranh treo trên vách nhưng hầu như chăng ai lui tới một người đàn ông tóc bạc gầy gò ngồi hút thuốc một mình và nhìn mông lung.Hình như giũa cái huyên náo phồn hoa  đô hội ông trở nên xa lạ cách  biệt. Ông lão  chính là Lê đình Nghiên nghệ nhân cuối cùng của dòng tranh Hàng Trống khăn gói từ Hà nội vào để triển lãm .


               Nghệ nhân Lê đình Nghiên năm nay đã 62 tuổi nhưng đã hơn 45 năm gắn bó với dòng tranh này.Ngay từ khi còn nhỏ đã theo bà nội đi bán tranh khắp cả phố phường Hà nội từng nhiều ngày chiêm ngắm ông nội và bố miệt mài trên những khuôn tranh. Ông nhớ lại : Những ngày giáp Tết tranh bán không kịp làm cả nhà phải xúm lại làm nhưng mà ông nội và bố  quyết không làm tranh dối qua quít mà phải đúng quy trình kỹ thuật .Những gam màu dân dã đã ngấm vào ông đến sâu kín và trở thành nỗi ám ảnh khó tách rời như là một chọn lựa có tính chung thẩm của đời người bởi nếu không làm sao có thể chịu đựng được khó khăn lận đận của cuộc sống để giữ gìn một dòng tranh truyền thống nhất là cái  thời buổi  mà thú chơi tranh cổ truyền của người Việt ngày một mai một.Hiện nay không chỉ làm tranh ông còn phục chế và bảo tồn tranh cổ.

               Nói về tranh Hàng Trống ông cho biết khác với tranh Đông Hồ có nhiều công đoạn in tất cả bằng ván khắc bao nhiêu mảng màu là bấy nhiêu lần in tranh Hàng Trống chỉ in lần đầu với đường nét hình khối chính rồi sau đó nghệ nhân mới tô màu bằng kỹ thuật từ đường nét trên bản khắc gỗ in đen kết hợp với tô màu phẩm bằng tay dùng bút mềm quệt bằng nước để tạo nên những độ chuyển đậm nhạt tinh tế uyển chuyển.Vì thế nhìn tranh Hàng Trống người xem dễ nhận ra dấu ấn của người tạo ra nó.Ngoài những tranh thửa tranh đặt hàng của người chơi thì tranh Hàng Trống có nhiều bản vẽ chỉ có độc bản được vẽ bằng tay chứ không có ván khắc.Về quy trình lên màu dòng tranh này gần với tranh làng Sình ở Huế nhưng được thực hiện công phu tỉ mỉ màu sắc cũng phong phú và sinh động hơn bởi dòng tranh làng Sình ngày nay không còn để trang trí mà chủ yếu là tranh thờ hoặc để làm hàng mã cúng bái nên kỹ thuật chế tác cũng đơn giản hơn.Còn tranh Hàng Trống được thực hiên trên giấy dó nhưng được đắp thêm nhiều lớp keo màu nên dày cứng có thể treo mà chẳng cân dùng khung.Đề tài cũng rất phong phú nhưng tập trung vào hai mảng.Một là tranh về tín ngưỡng nặng màu sắc tâm linh để trang trí các nơi tôn nghiêm(miếu đình chùa điện thờ ...)Mảng tranh này chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo và Đạo giáo với những khuôn hình nổi trội sự oai nghiêm tôn kính như các tranh Thánh Mẫu ông Hoàng Bà cô...Mảng thứ hai thiên về trang trí với những đề tài phản ảnh sinh hoạt đời thường các tích truyện xưa và các con thú.

               Mấy ngày triển lãm trước cảnh chợ chiều phòng tranh vắng bóng người xem ông vẫn lặng lẽ bày biện với khuôn mặt chẳng vui chẳng buồn.Hình như ông đã quen với cảnh bị quên lãng có phần hất hủi này.Dù vậy từ Hà Nội vào ông vẫn mang theo một lượng tranh rất đầy đủ kể cả dụng cụ giấy dó màu phẩm mực tàu ván khắc ..lỉnh kỉnh.Ông không muốn dòng tranh Hàng Trống xuất hiện trước mắt người xem cho dù chỉ vài người một cách sơ sài tệ hại.Thi thoảng  có ai hỏi ông không chỉ giải thích về dòng tranh mà còn thực hiện  vẽ tranh tại chỗ một cách nhiệt tình.Điều ấy thể hiện một tấm lòng tự trọng với nghề nghiệp của cha ông sự trân trọng với  di sản văn hóa dân tộc và một chút hy vọng le lói sẽ đánh thức mối quan tâm của công chúng về dòng tranh này.

  


             Khi được hỏi tranh Hàng Trống có trưng bày ở đâu?Người làm nghề có sống được với nghề kể cả sự tài trợ từ phía Nhà nước? Ông cho biết chỉ làm tranh ở nhà mà nhà ở trong hẻm nên chỉ đôi khi có người nhớ đến thú chơi tranh xưa ghé hỏi mua nên con đường mưu sinh cũng long đong gập ghềnh.Có khi một vài cò tranh đến mua rồi đem bán lại cho khách với giá gấp 2 3 lần không những thế họ còn tự nhân là tác giả nữa tôi biết nhưng mà thôi có bán là được rồi...Còn Chính quyền ..gặp khi tổ chức lễ hội Festival liên quan đến văn hóa mới ghé lại dục mình đem tranh tham dự triển lãm... Thế thôi.Ông kể lại khi được một cơ quan văn hóa Nhật mời sang nước họ triễn lãm họ tặng ông một tập sách tìm hiểu và nghiên cứu về ba dòng tranh dân gian Việt Nam(Hàng Trống Đông Hồ làng Sình).Sách bằng tiêng Nhật in đẹp sang trọng trong đó có một chương giới thiệu về ông (vừa nói vừa dỡ sách cho chúng tôi xem) rồi bùi ngùi :Đối với văn hóa của mình người Nhật còn trân trọng như thế còn ta thì...

               Hiện nay nghệ nhân Lê đình Nghiên đang truyền bí quyết nghề làm tranh cho con trai Lê Hoàn.Điều làm cho chúng tôi ngạc nhiên và bất ngờ nhất là khi ông xác quyết  một điều :Sẽ không cho truyền nhân Lê Hoàn thi vào bất cứ một trường đại học nào bởi đơn giản -theo ông nếu cháu học đại học ra trường sẽ có nhiều việc để làm hấp dẫn và có nhiều tiền hơn...thì chắc chắn cháu sẽ bỏ nghề và tranh Hàng Trống sẽ tuyệt hậu đứt bóng luôn..Nói thế đủ minh chứng cho tấm lòng của ông ngoài trách nhiệm niềm đam mê còn là quyết tâm và sự hy sinh cả đời con nữa chỉ để lưu giữ một dòng tranh truyền thống đang bị người đời nay quên lãng

More...

làng nghề bên sông thu bồn

By Hồ Sĩ Bình

 

  Những làng nghề ven sông Thu Bồn

                  Hồ sĩ Bình

            Sông Thu Bồn là con sông huyết mạch trong hệ thống giao thông của Quảng nam Đà nẵng  xưa mà ngày trước mọi mua bán trao đổi thưòng lấy đường thủy làm chính vì thế ngoài ý nghĩa vun đắp phù sa cho một vùng châu thổ thì đôi bờ sông Thu là nơi quần cư của những làng nghề truyền thống đa phần hình thành từ thế kỷ 15 do những lưu dân Thanh Nghệ Tĩnh vào khai phá xứ Đàng trong mà có .Cảnh sắc đôi bờ sông Thu luôn biêng biếc ngàn dâu Hỏi tên rằng biển dâu ngàn/ Hỏi quê rằng xứ mơ màng đã quên(Bùi Giáng)   .Nghề trồng dâu nuôi tằm phát t

riển rất mạnh mẽ bên cạnh là sự phát triển của Cảng thị Hội An và sau này là Cửa Hàn Đà nẵng nên nhu cầu giao thương và xuất khẩu hàng hóa là vô cùng cần thiết.Ngay cả chợ quê  ở đôi bờ cũng ra đời cùng với dòng chảy thời gian của cuộc sống đầy nhu cầu trao đổi như chợ Trung Phước chợ Điện bàn...

       Thiên nhiên đất đai của miền châu thổ phì nhiêu bát ngát là nguồn nguyên liệu vô tận đối với làng nghề. Trong bản chất của con người vượt đường xa vạn dặm đi khai phá vùng đất mới luôn đầy khát vọng sống luôn chịu thương chịu khó để vươn lên cùng với điều kiện  lịch sử của một vùng đất tiếp cận giao lưu sớm với thế giới bên ngoài đã tạo điều kiện và động lực cho những làng nghề phát triển từ rất sớm. Kéo theo là việc hình thành một tầng lớp nghệ nhân thông minh khéo léo  và đầy sáng tạo.Tất cả mọi yếu tố đã tạo ra một nét đặc trưng riêng của những làng nghề ven sông này.Do được sớm tôi luyện thử thách trong môi trường khốc liệt của quy luật đào thải và cạnh tranh nên những làng nghề luôn phải tạo ra những sản phẩm độc đáo tinh xảo kỳ khu. Chính Lê quý Đôn trong Phủ biên tạp lục đã từng nhận xét : Người Phủ Thăng Phủ Điện dệt được các thứ the đoạn lụa là hoa hòe tinh xảo chẳng kém   Quảng Đông. Con ngưởi ngoài sự thương khó bền bỉ còn phải có cái tâm của người làm nghề biết chịu trách nhiệm trước những sản phẩm của chính mình bởi đó là vấn đề sinh tử của nghề nghiệp Vì thế những làng nghề ven sông Thu trước sự nghiệt ngã của thời gian vẫn luôn đầy sức sống để tồn tại

       Ngày nay trước sự hội nhập với thế giới thì  sản phẩm làng nghề  vẫn đủ sức mời gọi  du khách nước ngoài . Rau Trà Quế Lồng đèn Hội An lụa là Mã Châu Mộc Kim Bồng bánh bông hồng trắng bánh su sê Hội An gốm Thanh Hà đá mỹ nghệ Non Nước. Mì Quảng Phú Chiêm Bò tái Cầu mống...từ những đôi tay khéo léo tài hoa và phẩm hạnh của người làm nghề  luôn cho ra những sản phẩm  hấp dẫn để níu chân du khách .

       Cái lợi thế là những làng nghề lại nằm ở những vị trí thuận tiện trên đường đi giữa 2 Di sản văn hóa của nhân loại Hội An và Mỹ Sơn cho nên rất thu hút khách du lịch.Dòng sông Thu lại lượn lờ chảy ra nhiều nhánh  trước khi đổ ra biển tạo nên ở đôi bờ những làng mạc ven sông yên bình lắng đọng nét đẹp êm ả của làng quê. Những bến đò bên sông  và chợ quê  như ở Trung phước trên bến dưới thuyền ăm ắp sản phẩm làng nghề quanh vùng làng cây trái Nam bộ  Đại Bình làng lụa Mã Châu là nét nhấn nhá cho bức tranh quê  mộc mạc hồn hậu.Bên bờ sông cuộc sống tầm tang rộn rã âm thanh của canh cửi quay đều nơi thôn xóm luôn đánh thức nơi lòng ta nỗi bồi hồi xúc động . Cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng thấp thoáng mộng bình yên với những hình ảnh làng nghề cũng tạo nên sức hấp dẫn   lý tưởng cho việc hình thành các tour du lịch trên sông nước kết hợp với thăm thú làng nghề.  Đã có  tour lồng ghép xen kẻ  với tham quan 2 di sản đã tạo cho du khách những cảm giác thích thú vì sự thay đổi của không gian tâm cảm Hơn nữa tham quan làng nghề là một cách tiếp cận  với một nền văn hóa đặc trưng của xứ Quảng còn cất dấu tiềm tàng với một sức sống kỳ lạ được lưu truyền mạnh mẽ tưởng không bao giờ mai một.

         Làng nghề dọc hai bờ sông Thu còn tồn tại và phát triển cũng nhờ biết kết hợp với du lịch nên có cơ hội tiêu thụ được sản phẩm đủ sức nuôi sống người dân quê. và cho dù hiện nay đang  đứng trước khó khăn thách thức của suy thoái kinh tế thì những làng nghề này vẫn biết cách để vượt qua.Một vài nét phác thảo dể giới thiệu về một số làng nghề dưới đây  ít nhiều nói lên cái bức tranh đầy sức sống của những làng nghề ở đôi bờ sông Thu

       

       Gốm Thanh Hà

Làng gốm Thanh hà thuộc xã Cẩm Hà cách Hội An khoảng 2km về hướng tây được hình thành từ thế kỷ 15 và phát triển song hành cùng Cảng thị Hội An trong các thế kỷ kế tiếp.Sản phẩm của gốm Thanh Hà chủ yếu là những mặt hàng dân dụng phục vụ sinh hoạt trong đời sống hàng ngày như ;Chum vại bát bình hoa chậu cảnh hình thù các con giống...

        Gốm Thanh Hà làm từ đất sét với kỹ thuật truyền thống của gốm sông Hoài sản phẩm có màu đỏ vàng đỏ cháy nhưng rất nhẹ nếu so với các loại gốm khác.Ngày nay với sự phát triển của du lịch và sự xuất hiện của nhiều Resort khách sạn biệt thự nhà vườn thì nghệ nhân làng gốm cũng đã thay đổi mẫu mã màu sắc như làm hộp đèn để ngoài sân vườn chum vại bình hoa hay các mặt nạ  với những họa tiết lạ mắt để thiết kế trang trí nội thất mang phong cách thuần Việt rất được giới xây dựng và kiến trúc ưa dùng.

        Đến thăm làng gốm Thanh Hà du khách sẽ tận mắt chứng kiến bàn tay với những thao tác khéo léo tài hoa của nghệ nhân .Gốm Thanh hà còn là  hiện thân của bảo tàng sống là nguồn tư liệu quý hiếm để các nhà khoa học các nhà văn hóa tìm hiểu nghề gốm Đông nam Á trong bối cảnh của Hội An xưa


       Mộc Kim Bồng

       Cách Hội An chỉ một chuyến đò ngang  qua sông Hoài nên rất tiên lợi đi lại.Làng mộc Kim Bồng xuất hiên từ thế kỷ 15 do các lưu dân vùng Thanh Nghệ và đồng bằng Bắc bộ vào khai phá.Cuối thế kỷ16 17 làng nghề phát triển mạnh mẽ hưng thịnh .Mộc Kim bồng sản xuất với 3 nhóm hàng rõ rêt:  nghề mộc xây dựng các công trình kiến trúc đô thị thể hiện rõ nhất là ở các ngôi nhà cổ hằng trăm năm của Hội An; Nghề mộc dân dụng mà hiện nay sản phẩm ngoài tiêu thụ trong nước còn có nhiều hợp đồng xuất đi nước ngoài; nghề đóng tàu thuyền trước đây(thế kỷ17) thủy quân Tây ban Nha đóng ở quần đảo Philippine từng đến đặt đóng thuyền.Với kỹ thuật đóng thuyền điêu luyện làng mộc Kim Bồng đã chế tác các loại thuyền buôn đường xa có trọng tải lớn góp phần quan trọng vào việc giao thương vận chuyển hàng đi khắp các vùng trong các thời kỳ trước.

       Nghệ nhân và thợ mộc Kim Bồng cũng được các vua quan triều Nguyễn mời ra tham gia xây dựng kinh thành Huế.Nhiều người còn được Vua ban tước Cửu Phẩm Bát phẩm...chứng tỏ thương hiệu làng nghề đã nổi danh suốt mấy thế kỷ.

    

     Lồng đèn Hội An


      Nghề làm lồng đèn có lẽ du nhập từ cư dân người Hoa đến lập nghiệp mua bán từ thời kỳ Cảng thị Hội an  mới phồn vinh nhưng  qua thời gian đã được Việt hóa để trở thành một mặt hàng mang đặc trưng của người Hội An.Hiện nay khó có thể hình dung nếu Hội An không có đèn lồng phố cổ sẽ thiếu mất cái hồn vía sâu lắng của mình.Bởi những đêm rằm phố cổ những lễ hội hoa đăng lễ hội lồng đèn trên sông  đã làm thăng hoa cho phố Hoài nhờ vẻ lung linh huyền hoặc của vô số những chiếc lồng đèn đủ các kiểu dáng kích cở màu sắc  góp phần làm nên không gian riêng của phố Hội .Nó đích thực  là nét đẹp của văn hóa không thể thiếu trong đời sống văn hóa của Hội An.

      Người Hội An làm lồng đèn tài hoa đến nổi  ngay cả người Tàu thủy tổ của nghề này có người đã thực sự ngạc nhiên bất ngờ trước vẻ lộng lẫy sắc sảo của lồng đèn phố cổ.Hiện nay lồng đèn Hội an là một mặt hàng được du khách nước ngoài ưa chuộng đến đây thì ai cũng thích thú mua lồng đèn về làm quà lưu niệm.Lồng đèn Hội An đã đến nhiều nước trên thế giới trở thành một thương hiệu được du khách chọn lưa rất nhiều hợp đồng container thường xuyên xuất sang nước ngoài.Bây giờ mà kiếm trên mạng thì đầy dẫy những trang web chào hàng giới thiệu mẫu mã mới của các cửa hàng bán lồng đèn ở Hội An. Lồng đèn Hội an có mẫu mã rất phong phú đa dạng luôn thay đổi kiểu dáng và kích cở gần đây chất liệu cũng đã có nhiều thay đổi từ giấy gương đã có thêm chất liệu mới như thổ cẩm tơ lụa ...không những bền hơn mà còn tạo ra nhiều màu sắc lạ lẫm bắt mắt

     

      Làng đúc đồng Phước Kiều

      Nằm bên quốc lộ 1A thuộc huyện Điện Bàn gần với di tích lịch sử Dinh trấn Thanh Chiêm và làng Mỳ Quảng Phú Chiêm Phước Kiều là làng đúc đồng nổi tiếng nhất của xứ Quảng đã có bề dày từ mấy thế kỷ trước.Các sản phẩm chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt hội hè đình đám như chuông chiêng mõ phèng la...và vật dung sinh hoạt hàng ngày như lư hương chân đèn nồi niêu song chảo các loại binh khí cổ như gươm đao giáo mác

      Nghệ nhân đúc đồng Phước Kiều ngoài sự khéo của bàn tay còn phải kể đến đôi tai thẩm âm nhạy bén biết "cảm" nghe từng loại âm thanh để tạo ra những nhạc cụ với thanh âm riêng biêt đặc thù sắc nét.Bí quyết và kỹ thuật pha trộn kim loại trong lúc nấu đồng ở những mức độ khác nhau chỉ được truyền đạt cho người tâm phúc.Bởi thế những bộ chiêng của các dân tộc Tây nguyên cũng xuất phát từ Phước Kiều

      Khách đến tham quan  Phứoc Kiều ngoài việc mua sắm hàng lưu niệm còn có cơ hội mục sở thị các nghệ nhân danh tiếng làm việc qua những công đoạn chế tác rất công phu.

       Chiếu Bàn Thạch

       Cách thị trấn Nam Phước (huyện Duy Xuyên) 5 cây số về hướng đông du khách  bắt gặp một biền cỏ cói xanh mướt nằm dọc hữu ngạn sông Thu đấy là vùng nguyên liệu chính của làng chiếu Bàn Thạch. Từ những bàn tay khéo léo thương khó của người dân quê đã cho ra ngững chiếc chiếu trắng chiếu hoa chiếu trổ chiếu bông chiếu nổi rực rỡ màu sắc được người tiêu thụ trong và ngoài nước ưa chuộng.

       Do địa thế nằm bên vùng sông nước có cảnh quan thiên nhiên thơ mộng hữu tình với sông nước mơ màng uốn lượn quanh dưới những hàng dừa xanh nên là một địa chỉ du lịch ấn tượng du khách vừa thăm thú làng nghề vừa thả mình giũa cảnh trời mây sông nước.

        Dệt Mã Châu

      Hình thành từ rất sớm (thế kỷ 15) nằm sát bên kinh đô của Champa cổ là Trà Kiệu trên đường  từ Hội An lên Mỹ sơn làng dệt Mã châu ngày trước chuyên dệt lụa cung cấp cho giới quý tộc quyền quý quan lại trong triều đình . Làng nghề Mã Châu hoạt động theo phương thức thủ công gồm đầy đủ các công đoạn từ trồng dâu nuôi tằm ươm tơ cho đến dệt lụa đều được thực hiện trong làng.Khi Cảng thị Hội An hưng thịnh thì lụa Mã Châu là mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất.Cuối thế kỷ 19 khi người Pháp đến Việt Nam Mã Châu có thêm nghề dệt bông đay nhưng dệt vải vẫn là  chủ yếu

       Gần đây do nhu cầu của thị trường tăng nhanh nên phương thức sản xuất có cải tiến đáng kể từ chỗ sử dụng khung dệt hoàn toàn thủ công  chuyển qua cơ giới tiến tới tự động hóa.Tuy vậy những khung dệt truyền thống vẫn hoạt động.Làng Mỹ Châu cũng có cảnh quanh xinh đẹp đường làng quanh co theo những hàng chè tàu và những vườn cau thẳng hàng tiêu biểu cho hình ảnh một làng quê ở miền Trung.

        Đá Non nước

        Làng đá Non nước nằm dưới chân Ngũ hanh Sơn là một làng đá nổi tiếng bậc nhất của Việt Nam chuyên sản xuất đồ mỹ nghệ bằng đá cẩm thạch cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước.Làng được hình thành từ 3 400 năm nay.Hiện nay trong những ngôi chùa cổ  ở địa phương có một vài tấm bia ghi danh tên làng gắn với nghề truyền thống của dân làng Hòa Hải.Trên danh thắng Ngũ hành Sơn còn nhà thờ tổ "Thạch nghệ tổ sư".Hàng năm vào ngày 6 tháng giêng các hoạt động giỗ tổ cũng diễn ra khá rầm rộ tại đây.

        Từ đất đá vô cảm sau một quá trình nặng nhọc vất vả qua nhiều công đoạn các nghệ nhân làng đá mỹ nghệ Non nước đã cho ra những sản phẩm làm đắm say lòng người  .Không gian của làng đá cũng rất độc đáo bởi nhưng vườn tượng được thiết kế tựa vào vách núi rất lôi cuốn cho khách tham quan.Sản phẩm của Non nước rất đa dạng từ cái vòng đeo tay gạt tàn thuốc nhỏ bé cho đến tượng Phật long lân qui phụng sư tử thiếu nữ các sản phẩm để trang trí nội thất cao lớn không thiếu một thứ gì.

         Cũng có những đứa con của làng nghề từng theo học các trường Mỹ thuật nay trở về  đã làm phong phú thêm cho nghề đá bằng những sáng tác điêu khắcMột số tác phẩm nghệ thuật của họ cũng được trưng bày nhiều nơi  trong và ngoài nước  đã góp phần vinh danh cho làng nghề.Bên cạnh là sự hình thành các vườn tượng nghệ thuật của các nhà điêu khắc kể cả sự tham gia của các điêu khắc gia quốc tế . Những nghệ nhân của Non nước cũng được mời tham dự những trại nghề điêu khắc ở nước ngoài Vì vậy Khi tìm hiểu về  Đà nẵng có nhà nghiên cứu đã cho rằng có một nền văn hóa đá trong nền văn hóa Đà nẵng

More...

làng nghề bên sông thu bồn

By Hồ Sĩ Bình

More...

Làng nghề Việt trước khúc quanh suy thoái

By Hồ Sĩ Bình

 

Làng nghề Việt trước khúc quanh suy thoái

                                             Hồ nguyễn Đông Quan

        Trước cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu Làng nghề Việt nam (nghề thủ công mỹ nghệ và làng nghề truyền thống )đang gặp rất nhiều khó khăn suy sụp nặng nề nên mới đây trong cuộc họp vào ngày 11/2/2009 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì Bộ trưởng Cao đức Phát  đề nghị các hiệp hội ngành nghề tích cực phối hợp với Bộ  Xây dựng thực hiện đề án xúc tiến thương mại cho làng nghề biện pháp tháo gỡ khó khăn tìm kiếm thị trường trong thời gian sớm nhất  cho làng nghề(cuối tháng của quý I/2009).Tìm lời giải cho bài toán làng nghề trước cuộc suy thoái kinh tế tòan cầu là việc làm vô cùng cấp bách và cần thiết.

          Điêu đứng làng nghề

         Theo ước tính nước ta có khoảng 1 4 triệu hộ gia đình nông thôn 11 triệu lao động tham gia sản xuất với hơn 2000 làng nghề trên cả nước.Mức thu nhập trung bình của người dân làng nghề cao gấp 3-4 lần so với làm nông nghiệp.Theo số liệu của Bộ Công thương sơ bộ năm 2008 kim ngạch xuất khẩu từ làng nghề đạt khoảng 1 tỷ dollars hàng thủ công mỹ nghệ là 1 trong 10  mặt hàng xuất khẩu tiềm năng.Thế nhưng gần đây trước cuộc suy thoái kinh tế làng nghề Việt lâm vào tình trạng điêu đứng vì sản phẩm không tiêu thụ được do người tiêu dùng nước ngoài phải dè sẻn chi tiêu.Theo Hiệp Hội làng nghề Việt Nam thì năm 2009 dự đoán khoảng 5 triệu lao động sẽ thất nghiệp trong số đó các ngành nghề chịu ảnh hưởng nhiều nhất là :Gốm sứ mộc gỗ mây tre đan lát.Hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt nam đặc biệt đối với khu vực nông thôn vì giải quyết công ăn việc làm cho một khối lượng công nhân lao động lớn.

         Ông Lê huy Thanh Phó Chủ tịch Hội Gốm sứ Bát tràng cho biết do sức mua nước ngoài giảm nên rất nhiều doanh nghiệp đã thu hẹp quy mô sản xuất cho công nhân nghỉ việc.Có doanh nghiệp hoạt động trước đây với 300 công nhân nay chỉ còn 100 công nhân sản xuất cầm chừng.Không chỉ Bát tràng mà ngay cả những địa phương khác cũng vậy.Làng nghề Nga Tân huyện Nga Sơn Thanh hóa năm 2007 xã xuất 540 tấn quải lối và 450 nghìn lá chiếu nhưng năm nay đình đốn nông dân bỏ không trồng cói nữa vì lỗ để quay sang các mặt hàng nông sản khác.Tỉnh Bắc Ninh với định hướng phát triển nông thôn lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp được xem là thành phần cơ bản đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương thì nay đang trong tình trạng thoi thóp dở khóc dở cười...Còn theo ông Vũ quốc Tuấn Chủ tịch Hiệp Hội làng Nghề VN thì hiện nay :60 % làng nghề hoạt động cầm cự 20% thoi thóp 20% phá sản

         Đi tìm lời giải cho bài toán làng nghề

           Để vực dậy tình hình đình đốn của làng nghề cần có những biện pháp đồng bộ chủ động với sự tham gia của mọi ngành mọi cấp và mọi tầng lớp nhân dân. Trước hết trong số 17.000 tỷ đồng kích cầu của Chính phủ nên dành cho một tỷ lệ đáng kể cho các doanh nghiệp làng nghề.Hỗ trợ bằng cách giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp không hiệu quả vay tín chấp hỗ trợ  ưu đãi vốn vay 100%..để tạo nguồn vốn duy trì sản xuất nhằm vượt qua giai đoạn khó khăn.

           Hiệp hội các làng nghề thường xuyên cung cấp thông tin cập nhật cho doanh nghiệp thay đổi mẫu mã  và kiểu dáng hàng hòa phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.Tìm kiếm thị trường mới để giới thiệu sản phẩm xây dựng thương hiệu đừng dừng lại kiểu làm ăn của nhản hiệu.Doanh nghiệp phải nhanh chóng tham gia hoạt động Chợ Điện tử có doanh nghiệp đã từng bán hàng từ trang web với hợp đồng trị giá hàng triệu dollars..

            Làng nghề hoạt động phải tìm cách kết hợp với  ngành du lịch để khai thác nguồn lợi phụ trợ  nhằm hỗ trợ song hành cho sản xuất .Các doanh nghiệp phải chủ động  đến với các công ty du lịch  lữ hành các Hiệp hội du lịch để tìm cách lồng ghép và quảng bá thương hiệu nhằm tạo ra sản phẩm du lịch ấn tượng;Nên hình thành các tuyến du lịch theo từng nhóm từng ngành ví như Tuyến Gốm sứ :Bát tràng Phù lãng Thổ hà Chu Đậu. Tuyến Thêu ren dệt lụa mây tre đan lát :Hà đông Chương Mỹ Phú xuyên Thường tín Thạch Thất Sơn Đông. Tuyến Hà Nam Ninh Bình Nam Định: Thêu Văn Lâm Chiếu cói Kim Sơn nhà thờ Phát Diệm...Ở Huế có thể là làng hoa giấy Thanh Tiên làng hoa Tiên Nộn nhà vườn Phú Mộng làng gốm Phước Tích.Quảng nam là mộc Kim Bồng gốm Thanh Hà rau Trà Quế đồng Phước Kiều lụa Mã châu..

Đà nẵng là đá Non Nước nước mắm Nam Ô làng ruốc Xuân Hà...

            Quan trọng nhất trong tình hình lúc này là quay lại với thị trường nội địa bởi lâu nay chỉ tập trung cho xuất khẩu mà quên đi tiềm năng tiêu thụ từ trong nước .Cả nước nên phát động một chiến dịch Người Việt dùng hàng Việt thật rầm rộ có sức lan tỏa.Bên cạnh các doanh nghiệp phải biết liên kết đầu tư mở rộng cơ sở hạ tầng gây dựng mô hình liên hoàn bao gồm xưởng sản xuất trung tâm trưng bày giới thiệu sản phẩm với người tiêu dùng nội địa tiếp thị để bán hàng hiệu quả đưa sản phẩm vào các siêu thị các đại lý phân phối trung tâm bán lẻ lập những chi nhánh văn phòng đại diện phủ sóng toàn quốc..

             Về phía Nhà nước (Trung ương và địa phương) các Hiệp hội làng nghề tăng cường quảng bá thương hiệu thông qua việc tổ chức thường kì các Hội chợ Cuộc Triển lãm Lễ hội  nhằm tôn vinh làng nghề Việt đồng thời là cơ hội tốt nhất để bán hàng hiệu quả.Doanh nghiệp phải biết tranh thủ tối đa cơ hội này để quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.Muốn duy trì tồn tại và phát triển doanh nghiệp làng nghề phải coi đây là những khó khăn thách thức để khẳng định và quyết tâm vượt qua


        

More...