Trang thơ HSB

By Hồ Sĩ Bình

 

LÊN ĐỒI THIÊN AN


Chiều nay em lên đồi cao

tìm mùa thu cũ

những trái thông khô đã thành quá khứ

cả ngọn gió xạc xào

cũng rủ nhau đi

em chờ mãi

nghe tiếng mùa đi thổn thức

dưới dấu chân mình vương vấn một loài hoa

nghe tiếng đập giữa hồn sâu thẳm

cứ thầm thì như cỏ biếc ngày xưa

em muốn phân bua

đắm mình cùng mộng tưởng

muốn giữ lại những bóng hình không thể giữ

như hoa sim hoa mua đâu nở trái mùa


ơi bé nhỏ một thời xa ngái

cứ hồn nhiên  nhìn mây trắng ngang đầu

tóc vẫn ngắn như ngày xưa tóc ngắn

hương vẫn thầm như hương của chiều xa

ngồi đối bóng vàng rơi màu lá nhạt

mai mốt về

ngồi kể chuyện thiên an




GÕ CỬA


tặng BH



CHIỀU GÕ VÀO MƯA XUỐNG THẤP

CHĂN CHIẾU GÕ VÀO NỖI VẮNG

MÔNG LUNG GÕ VÀO ANH

MỘT CHỮ HÒAI


BA MƯƠI NĂM MÀU XẾP TRẮNG

GÕ VÀO NẮNG BAN MAI

NGÕ CŨ Ơ HỜ GIÓ TẠT

BINH LỬA GÕ VÀO TRÍ NHỚ

PHÍA ẤY BỜ HỒ RỤNG NHỮNG BÂNG QƯƠ


VẾT CHÉM GÕ VÀO LUÂN LẠC

GÕ NHƯ CHÌM NỖI

BÚP BÊ LỤA BIẾC VÀNG MƠ

LÍU LO ĐƯỜNG RỘNG

TƠI BỜI GÕ VÀO ANH TIẾNG ĐỘNG

TỈNH GIẤC VỀ SÁNG



GÕ VÀO ĐÊM TIẾNG THỞ DÀI

THỜI GIAN GẦY SỢI TÓC

TRÔI XA MƯA RỚT LẠI

ĂN NĂN GÕ VÀO TIẾNG HÁT

BỐI RỐI GÕ VAO NẮNG MƯA

EM GÕ CỬA ĐỜI ANH LẬN ĐẬN

More...

TRANG THƠ HỒ SĨ BÌNH

By Hồ Sĩ Bình


Quay về


Sao tôi phải quay về

nơi phia ấy một rừng châu chấu

đường thôn chân trần ướt đẩm sương

cảm giác quen

buốt vào trí nhớ

nơi truông rú ao đầm mênh mang cỏ dại

con cò nghiêng chao

cò còn bay là đất trời trăm năm không đổi

nước dưới ao còn nương bóng chim tăm cá

nhận ra mình rơm rạ tuổi mười ba


bên bếp lửa chật chội

chị em ngồi sát vào nhau cho đủ chỗ

nhức tới xương rét cong mái lá

miên man chuyện đời xưa

rét căm căm đường làng chạy nhanh cho ấm

rét chi rét lạ rét lùng

mấy chục năm rùng mình lẩy mẩy.


chén rượu gạo chuyền tay có mùi khê

rượu mình nấu còn vương củi trấu

vô tình thấm vào vị giác

chênh chao niềm trắc ẩn

thằng bạn thời bắt ốc mò cua chôm gà trộm bưởi

giờ hom hem ngồi uống rượu suông

mưa nắng gạo cơm phập phồng mưa lũ

mọi chuyện ú ớ vật vờ cũng chỉ chiêm bao

những ngôi nhà trước sau cau chuối

trưa vắng buồn không chịu nỗi

con chó cong mình nằm ngủ

mấy ả tan chợ mai về líu ríu ngoài đê

gió nồm táp vào mái lá

phừng phực giận dỗi

chuối sau vườn lao xao bóng ai lẻn vào cửa sổ

tự dưng ngồi nghĩ chuyện vu vơ

đêm tối ngoài hiên

đượm nồng hương đồng hương bưởi

đã đời uống rượu tới khuya

con nhái con ếch làm bạn

trăng sáng chi khuya chén rượu óng màu bạc

cha mẹ không còn anh em đi hết

mộ ông mệ ngoài đồng cỏ lau chi chít

nhà cũ trường xưa bom dội tan hoang

đôi khi ngờ ngợ

đã lâu quen mùi phố xá

vợ con ngồi chưa kịp nóng đít đòi đi

sao cứ muốn  về

sao cứ muốn về

bên ngõ vắng.




Một nửa Ban Mê


Có một Ban Mê

từ cây số 3 về ngã năm thành phố

lóc cóc tiếng ngựa thồ

như kim đồng hồ gõ vào trưa vắng

lả chả hoa phượng tây vàng

đong đưa mùi tóc rất Huế

đã hẹn thầm phố núi và em


ngôi nhà thường xuyên khép cửa

góc phố nhiều người qua

nhưng từ lâu tắt lửa

không một người thân

em ngồi giữ nhà giữa đồ đạc ẩm mốc và bóng tối

đơn độc thiếu vắng bạn bè

cây dương cầm không ai đánh thức

còn vang mãi vọng âm buồn

muốn giữ lại thời gian em thả trôi bong bóng về những điều quá vãng

những gì đáng quên em vẫn giữ lại

mụ mị cả tháng ngày

phía trước còn chông chênh mù mịt

đừng cõng mãi trên vai nỗi đắng cay không cần chia sẻ


đã bao lần ghé qua rất vội

tôi mở toang cánh cửa sổ

cho nắng gió tràn vào

đến bên em chia một nửa nỗi buồn

muốn nhìn vào mắt em với niềm hy vọng

dù không dễ cả chút niềm tin

vây quanh biết bao trắc trở

những bông hoa ngụy tín

không dễ gì bị đánh lừa bởi lời rao giảng


chúng ta còn quá trẻ

đắm đuối nỗi buồn chưa kịp nhận ra

để bước qua giới hạn

chân trời còn mở cửa

con đường rừng vẫn muốn một lần đi hết

sau cỏ gai những mùa hoa phải đến lúc đáo kỳ


tôi sợ sự nhàn rỗi

sẽ nuốt trôi niềm hy vọng

không chỉ một nửa nỗi buồn

đấy là điều ấp ủ cùng em

không thể bắt đầu không thể kết thúc

tháng năm xa mịt mù chao đảo

ái ngại đời mình còn một nửa phía ấy Ban Mê.




HỒ SĨ BÌNH

 

NHỚ CAO CHU THẦN


THUỞ MỚI VÀO ĐỜI

TỪNG TREO ƯỚC MƠ TRÊN CÁNH CHIM HỒNG HẠC

BAY TÍT TỪNG MÂY MẤT BÓNG 

KHÔNG ĐỂ LẠI GÌ NGÒAI TIẾNG KÊU KHẮC KHỎAI GIŨA THINH KHÔNG

TIẾNG CHIM HAY TIẾNG HÚ


QÚA HẢI  VÂN QUAN

MÂY TRẮNG BAY RUNG LÊN NHƯ BỜM NGỰA

HÀO KHÍ DÂNG TRÀN CỦA NGƯỜI VƯỢT DỐC

QUA SÔNG LỤA LÀ MUỐN VUNG THANH KIẾM

ĐẤT KINH KỲ CỨ MUỐN VƯỢT TRƯỜNG GIANG

SÔNG CHẢY TRÔI LÒNG LUÔN DẬY SỐNG

DÙ CUỘC ĐỜI LA BÃI CÁT LẦY LÚN TUỘT TRẦN AI


CÁT LẤP ĐẦY CUỒNG NỘ

CÁT THẾ SỰ KHÔNG BỊT MẮT NGƯỜI  CHÍ LỚN

CẢ KHI CHÁN ĐỜI

MUỐN NÉM VÀO CHÉN RƯỢU RÓT ĐẦY VÔ SỐ CÁNH PHÙ DU

BIỂN CÓ LẶNG YÊN ĐÂU MÀ MƠ LẤY CHỮ NHÀN

TÂM CÓ TỊNH ĐÂU MÀ TOAN KHƯỚC SỰ DỜI

 

THỜI BUỔI NHIỂU NHƯƠNG

THƠ CA ĐÂU ĐỂ LUẬN ANH HÙNG

NÊN THI SĨ NÉM BÚT LÔNG MÀ CẦM KIẾM

NGỌN CỜ TỤ NGHĨA HAY CÂU THƠ NGẠO NGHẼ KHÓC CƯỜI

DUỚI LƯỠI DAO KIA VẾT CHÉM NGANG TRỜI

NHÌN CHIẾC GÔNG CÙM CƯỜI KHẺ THẾ GIAN

VẪN LÀ CÂU THƠ VĨNH QUYẾT


 

nỗi buồn từ thuở

(gởi anh Hoàng phủ)


Anh mặc áo hoa cho dòng sông

dệt gấm cho con đường

trồng cỏ thơm trên đồi xanh

choàng lên các cô gái đẹp những vòng hoa nguyệt quể

ngồi ru các em ngủ bồng bềnh với gió

không quên thắp trên những nấm mồ quên lãng

cùng diều nhắn nhủ

vinh danh biết bao người

quá khứ đã phủ bụi mù

nhũng thiển cận không thể vùi  dập

không thể chia cắt không thể đánh đồng

gọi đúng tên điều mình muốn gọi

ánh sáng tràn vào trên dòng sử kí



 rãi hạt trên cánh đồng tạ ơn

gọi mùa màng về cho mẹ cài bông ngủ sắc cho em

trải chiếu rượu với bạn bè hát ca cùng đồng dội

xa lạ với ồn ào  mưu toan gỉa dối

chỉ  dại khờ  trước vẻ đẹp của đời cho

sợ cỏ đau cúi xuống thầm thì

thương phận số của môt lòai hoa sớm nở tối tàn

 con dế con ve thời mộng tưởng

chữ nghĩa thương người thắp đuốc cày đêm

chở mùa vàng lên trang văn bát ngát


con trăng hạ huyền con trăng vô tội

người đến người đi còn anh ngồi lại

chén rượu mời không uống  mấy mùa trăng

trên dốc cũ một mình nghe gíó mãi

tiếng mùa xa rơi rơt bên thềm

anh vẽ lên đời anh

nỗi buồn gieo hạt

vẽ lên nỗi buồn

có từ vạn cổ


Hồ sĩ Bình








More...

"LÀNG TÔI" CỦA TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG

By Hồ Sĩ Bình

 

Làng tôi" của Trương Điện Thắng

11:52:00 06/06/2007



Tác phẩm "Làng tôi" - Ảnh: H.S.B 

Những chùm hoa chim chim nở tím sân đình đẫm màu rêu cũ ngôi trường nhỏ như tổ chim miếng bánh đúc ngọt bùi phiên chợ mùi áo mới tuổi nhỏ con gà đất trên tay của đứa bạn 13 tuổi bị địch bắn đầu làng cái lận đận của người cha một thời "đi ở" nồi bánh tét và những chiếc bánh ú canh chờ sáng đêm ba mươi...là những hình ảnh nằm sâu trong ký ức về ngôi làng chưa hề phai nhạt của Trương Điện Thắng.


Nỗi nhớ làng cứ chập chờn quặn thắt đến dai dẳng ròng rã đã 30 năm Thắng đã góp nhặt cát đá những bài viết rời trong suốt thời gian ấy để tập hợp lại gói ghém trong hai từ "Làng tôi". Hình như anh nhuốm phải một thứ tâm bệnh căn bệnh của người đời nay khi cứ loay hoay cô độc giữa chốn thành thị cứ muốn quay về cố xứ. Chợt nhớ chuyện xưa kể rằng có vị quan to khi gió sang mùa bỗng nhớ món rau thuần cá vượt bèn treo ấn từ quan mà về quê.


Nhưng "Làng tôi" không chỉ là ký ức nỗi nhớ tác giả đã ghi chép sưu tầm những câu chuyện dân gian tham khảo nhiều tư liệu kể cả gia phả thư tịch bia mộ nhằm phác thảo đầy đủ về ngôi làng của mình. Vì thế người đọc như đang tiếp cận một kho sử làng với những sự kiện chi tiết và biến cố lịch sử liên quan.


Thanh Quýt ngôi làng của tác giả có nhiều nét độc đáo bởi nó tiêu biểu cho hình thái của một ngôi làng cổ xứ Đàng Trong gồm các tộc họ mà các vị tiền hiền là các vị tướng theo chúa Tiên Nguyễn Hoàng đi mở đất. Suốt 500 năm nằm trên đường thiên lý đứng án ngữ nơi vùng Hội An Đà Nẵng chứng kiến biết bao nỗi thăng trầm thế sự tất cả còn khắc ghi trong cổ lục. Làng có tên trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn và Ô Châu Cân lục của Dương Văn An được biết đến với nghề dệt vải lâu đời.


Viết sử làng rất khó vì nguồn tư liệu thư tịch cổ lại hiếm bị thất lạc vì chiến tranh loạn lạc và dâu bể thời gian nên ngoài các văn bản có được (hương ước gia phả bia mộ các câu đối trên đình chùa miếu mạo...) tác giả còn lần theo nguồn tư liệu sống và những chuyện kể dân gian được lưu truyền khá phong phú để góp phần làm sáng tỏ thêm phần tư liệu lịch sử.


Có thể đấy là những giả thiết có tính huyền sử nhưng chắc chắn sẽ tạo nên sự thú vị trong lòng người đọc bởi sức sống kỳ diệu của đời sống văn hóa tâm linh của làng xã  vẫn luôn lưu truyền được gìn giữ như một mạch ngầm luôn tuôn chảy trong mỗi con người Việt Nam. Có lẽ vì thế "Làng tôi" là tập sách biên sử làng được viết dưới cái nhìn văn học đầy cảm xúc.


Hồ Sĩ Bình


 http://web.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2007/6/6/195818.tno

More...

CẢM XÚC VỚI "HÒN NGỌC XANH"

By Hồ Sĩ Bình



TTCT - Họa sĩ Phan Ngọc Minh vừa trở lại Việt Nam sau gần 50 ngày ở Ireland để vẽ triển lãm và giao lưu sinh hoạt với công chúng mỹ thuật cùng giới hoạt động nghệ thuật tại xứ sở vốn được biết đến là hòn đảo ngọc xanh lục của Tây Âu. Anh rất hạnh phúc ngập tràn cảm xúc sau chuyến viễn du dài ngày.




More...

KHU LĂNG MỘ AN BẰNG ( Thừa Thiên Huế ) có thể trở nên một địa chỉ du lịch?

By Hồ Sĩ Bình

 

 (Thứ Năm 17/04/2008-9:47 AM)




 
Nhiều lăng mộ được xây mới tại An Bằng


An Bằng là một làng biển cách núi Linh Thái gần 15km thuộc xã Vĩnh An huyện Phú Lộc (Báo Du lịch) - Thừa Thiên - Huế. Đó là một ngôi làng được nhiều người gọi là thành phố ma với khu lăng mộ được xây dựng rất kỳ thú đồ sộ mà có lẽ trên cả nước khó có nơi nào sánh nổi. Sau khi cầu Tư Hiền thông đi lại thuận tiện chúng tôi có dịp trở lại An Bằng.


More...

TẬP THƠ 220 KG

By Hồ Sĩ Bình

 

Tập thơ 220kg!

Cập nhật ngày 17 tháng 10 năm 2006 lúc 5:41 am (GMT+7) 


Một tập thơ lạ lùng nhất sẽ được "xuất bản" vào dịp Giáng sinh năm nay. Cả tập thơ ấy chỉ có 30 bài thơ ngắn nhưng không in cũng không viết theo kiểu thư pháp trên giấy mà được gò trên đồng đúng y thủ bút của tác giả.




Ảnh: Tác giả Phạm Văn Hạng với một trang "bản thảo"


Sau bốn năm thực hiện tập thơ dày 120 trang (khổ 50 x 65cm) này có trọng lượng lên tới 220kg. Ngoài tiếng Việt tập thơ còn được chuyển ngữ Anh Pháp Hoa. Khi hoàn thành tập thơ sẽ đạt những kỷ lục VN: nặng ký nhất có số "bản in" ít nhất (độc bản mãi mãi) và là tập thơ duy nhất từ trước tới nay được thực hiện trên đồng.


Tác giả tập thơ cũng là người thợ gò đồng những dòng thơ của mình là nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng một gương mặt quen thuộc lâu nay được biết đến với những công trình tượng đài khắp đất nước. Các dịch giả là Khổng Đức (tiếng Hoa) Tôn Thất Lan Thái Duy Bảo (tiếng Anh) Nguyễn Minh Hoàng Nguyễn Ngọc Tuấn (tiếng Pháp).


Với tên gọi 30 năm tập tễnh làm thơ Phạm Văn Hạng cho thấy gần suốt cả cuộc đời làm nghệ thuật của anh luôn gắn với thơ. Bài thơ dài nhất trong tập có 28 chữ ngắn nhất năm chữ.


Chúng được sinh thành sau những khoảnh khắc ngơi nghỉ giữa bề bộn công việc của nhà điêu khắc tóc râu bờm xờm được anh lặng lẽ dành dụm suốt 30 năm trong "cõi riêng thơ" của anh. Đó là khi anh đối bóng với chính mình chiêm nghiệm chân - giả thực - hư của kiếp người: Đất trời không giấu mặt/Đời người mãi thực hư. Những câu chữ trầm tư như lời tự vấn với lương tâm: Những tấm gương luôn vỡ/ Sự phản chiếu không mòn.


Giọng thơ có khi mạnh mẽ những khi tác giả không dằn được phẫn nộ trước những nỗi đau và bất bình mà anh được chứng kiến:


Đất im ắng chứa hồn thiêng rạn vỡ

Núi rền đau

Sông réo khúc đoạn trường

Bao thế kỷ

Bầm gan

Vết thương tang

Còn đó

Ai nỡ đành

Lóc thịt xẻ châu thân.


Cho ra mắt tập thơ đúng vào tuổi 65 cái tuổi đã đi qua những dông bão bể dâu của đời người tác giả bộc bạch: "So với những tác phẩm điêu khắc đã thực hiện tập thơ là một ngôi nhà của riêng mình nhất. 30 năm tập tễnh làm thơ cũng để tập tễnh làm người mà thôi...".


Theo HỒ SĨ BÌNH

Nguồn: Tuổi Trẻ

http://www.thotre.com/index.php?menu=detail&mid=40&nid=1112


More...

NHỮNG THANH ÂM SẮC MẦU

By Hồ Sĩ Bình

 

Những thanh âm sắc màu

Thứ hai 08 Tháng mười 2007

Họa sĩ Nguyễn Thị Dư Dư:




Họa sĩ Dư Dư bên tác phẩm của mình


Nếu phải gọi ra một cái tên tiêu biểu của các nữ họa sĩ miền Trung nhiều người am hiểu hội họa sẽ không ngần ngại chọn Nguyễn Thị Dư Dư.

Người đàn bà có cái tên khá đặc biệt ấy sống và vẽ ở Đà Nẵng đã gần 20 năm nay. Ẩn sau cái dáng vẻ đằm thắm dịu dàng đượm chút mơ màng của một phụ nữ Huế đầy cá tính là khát vọng tìm kiếm không mệt mỏi những thử thách mới qua chặng đường sáng tạo nghệ thuật. Thời kỳ đầu cầm cọ Dư Dư vẽ tranh lụa với những khuôn hình và màu sắc đầy sức biểu cảm dạt dào nữ tính.



Không dừng ở chất liệu dân gian đã góp phần làm nên diện mạo Dư Dư trong bước đầu sáng tác ấy chị chuyển sang vẽ giấy dó sơn dầu acrylic kể cả làm gốm... mà theo chị mỗi chất liệu đem đến sự cám dỗ và cảm xúc khác nhau. Lụa thì mềm mại nên vẽ với sự tịnh yên trong tâm hồn để có thời khắc thăng hoa cảm xúc; còn sơn dầu thì thoải mái rộng tay phóng cọ "chất" (matière) màu dày nên nuôi dưỡng được cảm xúc bền lâu...



Theo thời gian ngôn ngữ hội họa của Dư Dư đa chiều hơn lúc này là sự pha trộn giữa khuynh hướng biểu hiện và trừu tượng. Và từ những rung động nhẹ nhàng hợp với chất liệu lụa của thời kỳ đầu sáng tác càng lúc chị muốn tiếp cận khai thác chính cái thế giới nội tâm luôn chịu sự giằng xé giữa khát khao mong ước và thực tại cuộc sống. Rõ nhất là hai cuộc triển lãm gần đây (Hương mùa thu - năm 2001 và Mùa xuân - 2006 tại Đà Nẵng).




 

Trừu tượng Giai điệu



Ở chặng sáng tác này của chị có thể thấy vai trò âm nhạc trong đời sống tinh thần của người họa sĩ. Như Dư Dư thổ lộ chính âm nhạc đã góp phần tạo nên nguồn cảm hứng để dẫn dắt sáng tạo. Trong loạt tranh Dạ khúc mưa Thiên thai Trương Chi Tiếng đàn Giai điệu cổ Mozart - tôi đang lắng nghe... những cung bậc thanh âm thầm thì những giai điệu bay bổng được Dư Dư cảm nhận và "chuyển thể" sang ngôn ngữ hội họa. Thành công tới độ nào còn cần thời gian và công chúng thẩm định song có thể thấy sự chuyển động không ngừng của chị trên hành trình nghệ thuật.


Là gương mặt nữ tiêu biểu của hội họa Đà Nẵng hôm nay Dư Dư đã có mặt trong nhiều triển lãm mỹ thuật thường kỳ của khu vực và toàn quốc cũng như được mời tham dự nhiều trại sáng tác - cả các trại sáng tác quốc tế tổ chức ở Việt Nam. Lo toan công việc gia đình Dư Dư còn bận rộn với bộ môn mỹ thuật của Nhà thiếu nhi Đà Nẵng mà chị trực tiếp dạy cho 11 lớp năng khiếu rồi tổ chức các triển lãm cho thiếu nhi... Chị còn là trưởng nhóm họa sĩ nữ của thành phố biển dù nhóm chỉ mới hình thành chưa lâu nhưng đã tổ chức được bảy cuộc triển lãm ở nhiều nơi tạo được tiếng vang trong sinh hoạt mỹ thuật miền Trung. Song trên hết với Dư Dư vẫn là nỗi đam mê dành cho sáng tác.


Sau một cơn bạo bệnh hồi năm ngoái khiến nhiều người quý mến Dư Dư đã không khỏi lo lắng cho sự nghiệp hội họa của chị người phụ nữ vẫn tươi trẻ và duyên dáng ở tuổi trung niên này đã tiếp tục trở lại với bảng màu và giá vẽ để tiếp tục hát lên những thanh âm của sắc màu...


Theo HỒ SĨ BÌNH

Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần



- Nguyễn Thị Dư Dư sinh năm 1962 tại Huế tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Huế 1986 hiện là ủy viên Ban chấp hành Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng.


- Tham dự các triển lãm hàng năm khu vực miền Trung và Tây Nguyên triển lãm cá nhân Đà Nẵng năm 1994 triển lãm cá nhân tại TP.HCM năm 1996 triển lãm nhóm nữ tại Đà Nẵng các năm 2001 2002 2003 2006.


- Giải thưởng: giải thưởng toàn quốc 2000 giải thưởng Tổng cục Chính trị 2003 giải thưởng VHNT TP. Đà Nẵng năm 1995 2000 2006.



- Có tranh trong các sưu tập tư nhân tại Đức Mỹ Pháp Nhật Anh...

http://vietbao.vn/Van-hoa/Nhung-thanh-am-sac-mau/40223047/181/

More...

CÂU CHUYỆN CÁ CHÌNH

By Hồ Sĩ Bình

 

Câu chuyện cá chình

2008/06/11 

Cá chình rất thơm thịt và bổ dưỡng. Cá lớn thịt béo ngậy nhưng không làm tăng cholesterole và lipid nên được nhiều người ưa chuộng. Chình có hai loại chình sông và chình biển. Chình biển cũng hai loại loại chình bông thì béo hơn nhưng ngọt nhất vẫn là chình nước ngọt.


Ở miền Trung nổi danh nhất là cá chình ở vùng Lao Bảo Khe Sanh Đakrông (Quảng Trị) đến nỗi nhiề­u hàng quán dù cá không đến từ vùng này cũng ghi trong thực đơn là chình Lao Bảo. Đây là vùng cao của tỉnh Quảng Trị có nhiều sông suối và hang đá điều kiện thủy sinh lý tưởng để chình sinh sôi và phát triển.




Món lẩu cá chình


Câu cá chình rất kỳ công. Nó là loại kình ngư rất mạnh mẽ nếu không nắm được đặc tính của nó khó mà tóm được cá dù đã cắn câu. Cá đớp mồi rồi mà giật cần câu ngay là đứt dây cước. Ở Lao Bảo cá ngạm mồi rồi liền lủi vào trong hang đá đuôi nó neo cứng trong lèn đá. Người đi câu phải biết nương cần chờ đợi hồi lâu cho đến khi cá chình đuối sức lúc đó mới lặn xuống mò vào hang đá vớt nó lên.


Cá chình nặng vài ký trở lên cũng bình thường. Cá càng lớn thịt càng ngon bụng nhiều mỡ béo ngậy. Người viết bài này có một kỷ niệm khó quên về cá chình. Lần ấy tôi về một cảng cá để viết bài. Trước khi về vị giám đốc mới treo vào xe một bao cát chứa một ít hải sản gọi là "cây nhà lá vườn làm quà cho chị nhà". Về đến nhà tôi chỉ bao hải sản và nhắc vợ lo mà làm bếp rồi đi tắm. Đang tắm tôi bỗng nghe vợ la thất thanh sau bếp chạy ra thì nhà tôi đã nằm ngất rồi... Thật khinh khủng làm sao mà không ngất được khi nàng vừa xổ bao cát ra thì một con cá chình biển vằn vện cỡ con trăn nhỏ quậy dữ dội...


Về cái độ mạnh mẽ và sống dai của cá chình nhà văn Bửu Ý vừa nói vừa lắc đầu: "Cá ni hắn dễ sợ lắm ban đêm mò lên bờ rồi vào chuồng bắt gà con. Những nhà gần sông họ có kinh nghiệm bắt cá. Đêm hôm hễ nghe gà sau chuồng xao xác là biết hắn lên hắn trườn nhanh như rắn nhưng theo một quy luật lên lối nào thì bò xuống lối đó nên người ta canh lối nó lên rồi rắc rất nhiều tro thế là khi xuống nó lọt vào ổ tro chỉ biết nằm một chỗ hết đường cựa quậy".


Cá chình nấu chuối đậu


Cá chình chế biến được rất nhiều món. Thịt cá chình dai nên ở quê các bà mẹ thường cắt lát kho dim với nghệ. Món này mà ăn với cơm gạo đỏ nóng thì tuyệt cú mèo. Ở nhà hàng người ta xào với các loại nấm (nấm đông cô nấm mèo nấm mối) cùng hành tây tiêu sọ ăn cũng... nhức nhối lam. Cá chình nướng chấm nước mắm gừng hay kho um với chuối chát cũng hết ý. Còn lẩu cá chình thì khỏi nói nước ngọt đậm húp khi nóng vã mồ hôi mới đã...


Có điều lạ theo lời nhà báo Nguyễn Trung Dân không như các loại hải sản khác phải ăn tươi càng tươi càng ngon cá chình trước khi nấu nướng phải để "hơi ươn ươn" một chút thì thịt mới chắc và thơm hơn mà không tanh nhất là với món nướng. Còn đại huynh Nguyễn Trọng Huấn người từng trải chiếu bày những cuộc rượu khắp cả nước gật gù mà rằng: trong danh mục các loại cá thì chình phải được kể đầu bảng. Mà theo anh thưởng thức cá chình đúng gu phải kèm với rượu làng Chuồn một đệ nhất danh tửu của xứ Huế.


Hiện nay cá chình có giá trị thương phẩm cao nên ở Huế bây giờ người ta nuôi cá chình rất nhiều cá nuôi so với cá tự nhiên chất lượng cũng một bảy một mười.



Theo Hồ Sĩ Bình - Thế Giới Ẩm Thực

More...

PHỞ BẮC PHỞ NAM

By Hồ Sĩ Bình

 

Phở Bắc phở Nam

(Thứ Năm 17/04/2008-9:31 AM)




Phở Bắc


Hơn 10 năm trước lần đầu ra Hà Nội được anh em văn nghệ kéo đi ăn phở ở những hàng phở trứ danh của thủ đô như Phở Bát Đàn Phở Tư lùn (Hai Bà Trưng) Phở Hàng Đồng... thú thật là ngon không chịu nổi dù chẳng có nước tương đen tương đỏ chén nước béo hoa mơ.


Bàn về Phở món ăn danh bất hư truyền của ẩm thực Việt là một đề tài không hề cũ. Nhân đọc bài "Thăng trầm" Phở của Hà Nội của nhà nghiên cứu Đào Hùng trên Tạp chí Du lịch ẩm thực số tháng 4.2008 tôi xin lạm bàn thêm đôi chút. Tác giả bài báo cho rằng: "Cho đến ngày nay Phở Hà Nội vẫn chưa chinh phục được người dân Huế. Không biết có phải vì người Huế vẫn quen với món bún bò truyền thống nên Phở không có chỗ chen chân?"


Xin nói rõ hơn điều này. Thói quen khẩu vị trong cách ăn uống của người Huế khác với Hà Nội ở chỗ bất cứ ăn gì trước hết phải có sự đóng góp của thị giác. Từ món ăn sang trọng đến dân dã yếu tố trang trí trình bày là quan trọng đặc biệt là đồ màu trong chế biến.


Một tô canh nồi cá kho một tô bún bò... đều có một chút nước màu bên trên cho thêm phần hấp dẫn. Vì thế thay vì gọi là gia vị phụ nữ Huế gọi là đồ màu. Họ xem bày biện món ăn như một bức tranh. Khi chê người nấu ăn vụng người ta nói: "Nấu ăn chi mà không có màu mè chi hết." Mà Phở Hà Nội đúng nghĩa lại có nước dùng trong không có màu mè nên chi đó là điều mà phở Hà Nội vẫn chưa thể chen chân tại đất thần kinh chăng?





Phở Nam


Người viết bài này từng không chịu Phở Bắc tại các hàng quán ở miền Trung nhưng lại rất mê Phở Sài Gòn có lẽ một phần từ các yếu tố "màu mè" đó. Cách đây mấy chục năm khi mới vào Sài Gòn ông anh ruột đưa tôi đi ăn ở những hàng phở trứ danh như Phở Hòa ở Pasteur Phở Tàu Bay ở ngã năm Chợ Cá (Trần Quốc Toản cũ nay là 3 tháng 2) phở Hai Bà Trưng Phở Quyền... thú thật tôi thấy ngon. Hóa ra chúng tôi đã thưởng thức phở theo kiểu của một người miền Trung.


Thường những tiệm phở ở Sài Gòn ngoài đĩa rau tươi nõn đều có 2 loại nước tương đen và đỏ được chúng tôi trộn thêm vào tô phở để có cái độ "màu mè" và mùi vị "chua chua ngọt ngọt". Về cái khoản này thỉnh thoảng còn kêu thêm một "chén nước béo" nữa. Từ đó sinh ra cực đoan: Nói đến phở phải là Sài Gòn còn phở Bắc... thì thôi cho dù trong buổi trà dư tửu hậu có người cho rằng tôi chẳng biết gì phở Hà Nội cả mà cũng có ý kiến.


Hơn 10 năm trước lần đầu ra Hà Nội được anh em văn nghệ kéo đi ăn phở ở những hàng phở trứ danh của thủ đô như Phở Bát Đàn Phở Tư lùn (Hai Bà Trưng) Phở Hàng Đồng... thú thật là ngon không chịu nổi dù chẳng có nước tương đen tương đỏ chén nước béo hoa mơ.


Tôi ăn buổi sáng tôi lang thang trước khi về ngủ cũng tạt ngang hàng phở. Những tô phở vừa vặn được trang trí vài cây hành trụng thịt bò mềm nước dùng ngọt sắc nhất là mùi thơm ngào ngạt từ tô phở bốc khói một mùi thơm quyến rũ và hấp dẫn luôn đánh thức vị giác của những người qua đường như ly cà phê ngon cái ngon bắt đầu từ mùi thơm. Giữa một không gian thời tiết với những cơn gió heo may se lạnh thì hương vị của phở càng thêm thơm ngon một cách lạ lùng.


Rất nhiều người Huế đến Hà Nội rất chịu phở đất kinh kỳ. Như thế lý giải thế nào về cái "gu" ẩm thực theo kiểu gia vị "màu mè" của người Huế. Trước hết là mùi thơm một loại "hương gây mùi nhớ" mà người Hà Nội đã chăm chút bởi đầy đủ các thứ gia vị gồm thảo quả hồi hành nướng mực khô nước mắm ngon gừng... để làm tô phở thêm đặc sắc.


Hồ Sĩ 

More...

BÊ THUI CẦU NỐNG: DANH BẤT HƯ TRUYỀN

By Hồ Sĩ Bình

 

Bê thui cầu mống: Danh bất hư truyền!


Vào mùa xuân đôi bờ sông Thu Bồn là ngàn dâu biêng biếc mênh mông những đồng cỏ non tơ mơn mởn trải dài. Đất Gò Nổi - Cầu Mống suốt mùa lũ lụt thường chìm khuất dưới nước. Nước lũ rút đi phù sa màu mỡ để cỏ cây lên xanh tươi tốt đến không ngờ trở thành vùng đất thuận lợi chăn nuôi bò.


Những đàn bò mặc sức ăn no tắm mát và sinh sản rất nhanh cho ra đời những chú bê con lớn nhanh như thổi vì được tiếp nguồn sữa mẹ dồi dào nhờ đồng cỏ xanh tươi... Đó là một cách lý giải vì sao mà miếng bê thui Cầu Mống lại thơm ngọt lạ lùng đến vậy!




Món bê thui - đặc sản Cầu Mống


Người Gò Nổi nói rằng con bê năm tháng tuổi (thời gian thích hợp để hạ thịt) vùng này nặng cả 100kg thịt bê khi đó sao mà ngon đáo để. Bê nơi khác cũng cùng độ tuổi nhưng thường gầy ốm nên thịt mỏng mà không thơm. Ngày trước người ta còn thui bê bằng củi dâu nên miếng thịt càng thơm ngọt; khi thui phải biết cách chêm lửa thế nào cho vừa đủ để cả con bê vừa chín tới và chín đều. Bây giờ dù người ta thui bê bằng than hoa nhưng miếng thịt bê thui Cầu Mống vẫn cứ danh bất hư truyền


Ăn bê thui Cầu Mống cùng rau sống đủ loại của vùng quê bên sông nước (tía tô ngò thơm xà lách cải con khế chua chuối chát xát mỏng rau húng rau quế giá...) cuốn với bánh tráng mỏng chấm mắm cá cơm. Khách có thể gọi thịt bắp thịt ba chỉ thịt mông da... tuỳ thích. Ngoài ra hàng quán còn bán thêm nhiều món khác cũng từ thịt bê Cầu Mống: xáo gân xương bún tái...

    




  

  Bê thui Cầu Mống cùng rau sống đủ loại của vùng quê bên sông nước


Trong số dãy hàng quán bán bê thui từ bờ bắc cầu Câu Lau kéo dài đến thị trấn Vĩnh Điện  (huyện Điện Bàn Quảng Nam) thì quán chị Mười là nổi tiếng nhất. Từ sáng đến chiều tối khi nào cũng đông đúc khách đường xa ghé lại. Còn nhớ mười mấy năm  trước quán của chị tềnh toàng thế mà bây giờ đã thành cơ ngơi bề thế sang trọng... Tất cả nhờ vào bê thui chị nói vì thế phải giữ cho được uy tín thương hiệu "Bê thui Mười".


1kg thịt ở quán chị Mười thật ra khi bán cho khách chỉ tính có 7 lạng (700gr) vì còn phải lọc bớt bạc nhạc bùi nhùi như thế miếng thịt mới mềm và ngon. Nội củ tỏi thôi cũng phải là của vương quốc tỏi Lý Sơn chứ không dùng tỏi Trung Quốc. Đặc biệt nhất là nước chấm của quán: tinh chế từ cá cơm tươi rói từ biển Hội An sau khi ướp muối được xay nhuyễn rồi trộn với cả chục loại gia vị...Nhiều người không quen ăn mắm sau khi dùng nước chấm của quán chị Mười đều chịu. Nói tới đây chị Mười cười ý nhị... Có lẽ điều đó thuộc về bí quyết.


Đĩa bê thui Cầu Mống chỉ nhìn thôi đã thấy hấp dẫn rủ rê cái bụng cái miệng thèm ăn! Trong bản hoà ca còn có đĩa rau xanh non trái ớt sừng trâu ưa cắn xấp bánh tráng Phú Chiêm và mùi vị đặc trưng của nước chấm cá cơm Hội An.


Theo Hồ Sĩ Bình -

More...