MỘT VÙNG MĨ THUẬT GIÀU TIỀM NĂNG VÀ BẢN SẮC

By Hồ Sĩ Bình

 

HỒ SĨ BÌNH



Theo dõi những bước phát triển của phong trào mỹ thuật Đà Nẵng hơn 30 năm qua giới nghiên cứu mỹ thuật các nhà hoạt động văn hóa nghệ thuật của cả nước đều có chung một nhận định: Đó là một vùng đất mà tiềm năng mỹ thuật hết sức to lớn đã biết kế thừa truyền thống nghệ thuật của những năm tháng đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm từ Pháp cho đến Mỹ và sau này 30 năm trong xây dựng và phát triển. Một nền mỹ thuật theo kịp các trào lưu nghệ thuật đương đại của thế giới trên cơ sở giữ gìn bản sắc của nghệ thuật dân gian lâu đời luôn hừng hực một khát vọng vươn tới để sáng tạo. Và thực tế ngày nay thì mỹ thuật Đà Nẵng đã từng bước trưởng thành và khẳng định vị trí của mình trong nền mỹ thuật Việt Nam cũng như đã bước đầu có được tiếng nói giao lưu với mỹ thuật thế giới.


Từ sau năm 1975 khi mà thành phố vừa ngưng tiếng súng còn ngổn ngang trăm thứ thì tất cả các nghệ sĩ đã cùng nhau chung sức để làm việc. Các anh em từ chiến khu trở về từ miền Bắc chi viện vào với những Tạ Quang Bạo Nguyễn Hoàng Kim Phạm Hồng Nguyễn Đức Hạnh Mai Ngọc Chính Lê Văn Tài Phó Đức Vượng Nguyễn Thị Phi Phi...cùng các anh chị ở đô thị: Đỗ Toàn Phạm Văn Hạng Duy Ninh Vũ Dương Hoàng Đặng Hà Dư Sinh Phan Ngọc Minh Hoàng Ân...Tất cả được tập hợp đông đủ với một quyết tâm để xây dựng một phong trào mỹ thuật Quảng Nam-Đà Nẵng đúng với cái tầm của một vùng đất anh hùng. Các anh chị đã bám sát hiện thực phản ánh kịp thời khí thế sôi sục cách mạng của một thành phố mới giải phóng. Mảng tranh cổ động đã được các anh chị em gia rất nhiệt tình . Một số tranh cổ dộng được đánh giá cao. Đề tài chiến tranh cách mạng cuộc chiến đấu gian khổ nhưng đầy hào hùng của dân tộc cảm hứng về lịch sử lòng tự hào dân tộc đã được khai thác và thể hiện rõ nét trong các tác phẩm. Các nhà điêu khắc bước đầu có những công trình tượng đài khá đặc sắc ngôn ngữ tạo hình gây được ấn tượng. Cụm tượng Trung dũng kiên cường...tại Trung tâm văn hóa 84 Hùng Vương nhân kỷ niệm 1 năm giải phóng Quảng Nam-Đà Nẵng. Đây là tượng đài được thực hiện sớm nhất và gây được ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc trong lòng công chúng. Tượng đài Chiến thắng ở Quế Sơn của Phạm Hồng và Tạ Quang Bạo mang tính điển hình và khái quát cao đã thể hiện cái khí thế tiến công vang dội của quân dân Quế Sơn. Tượng đài Mẹ dũng sĩ của Phạm Văn Hạng được chắt chiu thu gom từ những vỏ đại bác là một cách làm khá độc đáo về chất liệu. Triển lãm cá nhân của họa sĩ Hoàng Đặng vào thời điểm này được xem là một trong vài triển lãm cá nhân đầu tiên ở miền Nam sau 1975. Đà Nẵng cũng đã từng tổ chức trại sáng tác mỹ thuật năm 1981 thu hút những họa sĩ nhà điêu khắc nổi tiếng của cả nước tham gia: Phan Kế An Bùi Xuân Phái Lưu Công Nhân Văn Đa Đoàn Văn Nguyên Đặng Thu Hương Nguyễn Thế Vinh Lê Anh Vân vv...


Thập niên tiếp theo đã xuất hiện của một đội ngũ sáng tác trẻ đầy tâm huyết. Những khuôn mặt như Đinh Gia Thắng Trần Nhơn Lê Đợi Nguyễn Tường Vinh Nguyễn Trọng Dũng...Đặc biệt là sau ngày tách tỉnh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương là đô thị loại I một loạt những gương mặt trẻ và đầy nhiệt tình xông xáo xuất hiện: Hồ Đình Nam Kha Trịnh Thanh Sơn Võ Thanh Tịnh Nguyễn Quang Quang Huy...đã làm cho diện mạo mỹ thuật Đà Nẵng thêm phong phú và khởi sắc. Nhiều cuộc triển lãm cá nhân trong và ngoài nước. Các hội viên đã tham gia liên tục triển lãm mỹ thuật khu vực hàng năm triển lãm mỹ thuật của lực lượng vũ trang Quân đội nhân dân và các Bộ Ngành có liên quan. Anh chị em hội viên Chi hội mỹ thuật của thành phố bên sông Hàn không ngừng lớn mạnh nhiều giải thưởng được trao tặng. Nhiều cá nhân được mời triển lãm ở một số nước (Từ Duy Phan Ngọc Minh Vũ Dương Hoàng Đặng Nguyễn Long Bửu...) và tham dự triển lãm mỹ thuật các nước khối khu vực Asean. Mấy năm gần đây nhóm nữ họa sĩ Đà Nẵng đã được thành lập. Các chị đã tổ chức được những chuyến đi thâm nhập thực tế và triển lãm tại nhiều nơi tạo nên một nét mới rất đáng trân trọng gây được sự chú ý của giới mỹ thuật cả nước. Cần phải ghi nhận sự đóng góp của các nữ họa sĩ Nguyễn Thị Dư Dư Nguyễn Phi Phi Trần Thị Cúc...trong những hoạt động giàu nữ tính này...Nhiều tác phẩm đã đến với nhiều nước trên thế giới có trong những bộ sưu tập ở nước ngoài đã khẳng định vị trí nổi bật của Đà Nẵng trong nền mỹ thuật Việt Nam.


 Tất cả các thế hệ nghệ sĩ đã tiếp nối chung sức để quyết tâm xây dựng cho Đà Nẵng trở thành một trung tâm mỹ thuật ở miền Trung. Các anh chị mỗi người mỗi phong cách nhằm nỗ lực tìm kiếm trong sáng tạo nghệ thuật từ đề tài đến cách thể hiện ngôn ngữ tạo hình kể cả chất liệu sáng tác loại hình nghệ thuật...Nhiều người đã tiếp cận với các trào lưu nghệ thuật đương đại của thế giới. Đến nay đội ngũ của Hội mỹ thuật Đà Nẵng đã lên đến 42 hội viên một con số không nhỏ đủ để tạo nên một tiềm năng sáng tác vững mạnh.


Đà Nẵng còn sở hữu một làng đá Non Nước khá nổi tiếng. Đây cũng là một lợi thế để các nhà điêu khắc có điều kiện và cơ hội phát huy sở trường của mình. Bên cạnh làng nghề với những nghệ nhân thành thạo là sự ra đời của một số xưởng điêu khắc cá nhân (Oyvin Phạm Hồng Nguyễn Long Bửu...) Cần phải thừa nhận Hội mỹ thuật thành phố đã mạnh dạn tiếp nhận làm đối tác dự án điêu khắc Đà Nẵng do Na uy tài trợ nhằm đào tạo nghệ nhân điêu khắc đá có trình độ kỹ thuật cao đồng thời mở ra hướng thu hút các nhà điêu khắc nước ngoài đến và làm việc sáng tác tạo những không gian nghệ thuật quốc tế cho thành phố. Năm 2007 được sự giúp đỡ của chính quyền thành phố Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật và các tổ chức nước ngoài Đà Nẵng đã tổ chức một cuộc triển lãm điêu khắc quốc tế bên bờ sông Hàn thơ mộng. Trong những yếu tố tạo nên bản sắc nghệ thuật của Đà Nẵng thì yếu tố làng đá cũng là nét riêng.


Bản sắc mỹ thuật Đà Nẵng được tạo nên và hình thành từ những đặc thù lịch sử địa lý truyền thống văn hóa của địa phương. Đây là nơi giao tiếp và chịu sự tác động qua lại giữa các nền văn minh như Sa Huỳnh Chăm pa cổ là nơi 3 hướng đều giáp biển cảng thị phát triển từ lâu nên có điều kiện để giao lưu văn hóa nghệ thuật với bên ngoài từ rất sớm. Con người Đà Nẵng vốn cần cù vượt khó kiên cường chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt từ những ngày đầu đi mở cõi anh dũng đi đầu chống 2 kẻ thù xâm lược nước ta là Pháp và  Mỹ. Vì thế đã tạo cho người Đà Nẵng nói chung và văn nghệ sĩ Đà Nẵng nói riêng có khí chất dám nghĩ dám vượt khó khao khát tìm tòi sáng tạo để tạo nên bản sắc riêng của mình trong đó có giới mỹ thuật.


Nhà báo Hà Phan Thiết sau khi đến thăm triển lãm mỹ thuật của Đà Nẵng tại Hà Nội đã có nhận xét về bản sắc của vùng đất này: Dễ dàng nhận ra sắc diện đặc trưng của vùng đất không thể trộn lẫn vào đâu được...Miền đất đã sản sinh ra những nghệ sĩ gắn bó với quê hương lấy quê hương làm cảm hứng cho sáng tác của mình...Còn nhà phê bình Nguyễn Hùng Tổng biên tập tạp chí Mỹ thuật thì cho rằng: Có thể nói mỹ thuật Đà Nẵng là sự hội tụ một phần tài năng tâm huyết của nghệ sĩ tạo nên những giá trị thẩm mỹ được phản ánh sâu sắc và chân thực đời sống xã hội ở một thành phố trẻ đang trong quá trình đổi mới và hội nhập...Đây là những đánh giá khá trân trọng với mỹ thuật Đà Nẵng.


Đà Nẵng đã trở thành vùng đất mỹ thuật giàu tiềm năng và có bản sắc. Hơn 30 năm qua ngoài việc tập hợp tổ chức và định hướng của Liên hiệp văn học nghệ thuật thành phố còn phải kể đến lãnh đạo thành phố đã quan tâm ưu ái tạo nhiều điều kiện để phát triển. Tuy nhiên mỹ thuật Đà Nẵng cần được phát triển hơn nữa những hoạt động nghề nghiệp sáng tác cần được quan tâm để theo kịp tầm cao của một thành phố trẻ trung năng động xứng đáng với một đô thị loại I một trung tâm kinh tế văn hóa của miền Trung. Cái thiếu nhất là cơ sở vật chất dành cho sinh hoạt nghệ thuật nhất là khi các địa chỉ như 84 Hùng Vương chuyển đổi theo một chức năng khác. Các nghệ sĩ rất cần một không gian sinh hoạt câu lạc bộ để trao đổi kinh nghiệm kiến thức nghề nghiệp nhất là khu vực triển lãm mỹ thuật xứng tầm để các tác phẩm của họ có cơ hội đến với người thưởng ngoạn. Sự giao lưu này là cần thiết vì nó còn là cảm hứng giúp cho nghệ sĩ tiếp tục sáng tác.


Cũng thật đáng tiếc nếu được đầu tư biết chắt lọc và lưu giữ những tác phẩm của các nghệ sĩ tiêu biểu qua các thời kỳ để từ đó hình thành bộ sưu tập mỹ thuật cho thành phố. Xa hơn thành phố cần phải nghĩ đến việc xây dựng một bảo tàng mỹ thuật kế thừa được truyền thống và bản sắc của một vùng đất ở khu vực miền Trung đồng thời mang dáng dấp của mỹ thuật đương đại trong tinh thần hòa nhập với khu vực quốc tế.


Hy vọng rằng trong thời gian tới mỹ thuật Đà Nẵng sẽ vượt qua những thách thức để tiếp tục gặt hái thành quả nghệ thuật như mong mỏi của mọi người.


Nguồn : Ba mươi năm Văn Học Nghệ Thuật Quảng Nam - Đà Nẵng ( NXB Đà Nẵng 2008 )



More...

NHÀN ĐÀM: HOA VÀ NGƯỜI XỨ HUẾ

By Hồ Sĩ Bình

 

            Tôi có người bạn vong niên họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận. Cả cuộc đời anh chẳng biết làm một nghề gì khác ngoài chuyện vẽ vời. Những năm đầu giải phóng cuộc sống hết sức khó khăn chẳng biết làm gì để đắp đổi qua ngày hòng tiếp tục đeo đuổi đam mê cầm cọ anh chợt nghĩ ra một cách là về nhà (ở Châu Ê) trồng hoa phượng cúng rồi đem ra chợ bán. Hoa có bao nhiêu đều bán hết nhất là các dịp lễ lạt những ngày lễ trọng. Trên bàn thờ gì thì gì hoa để cúng vẫn là điều không thể thiếu dù những năm tháng ấy nhiều người còn phải ăn độn. Thế đấy với người Huế hoa đã đi vào đời sống tâm linh tự bao đời để trở thành biểu tượng cho niềm tôn kính với những người đã khuất.

            Không chỉ thế hoa cũng đã góp phần thăng hoa cuộc sống của người dân xứ Huế. Khó tưởng tượng nỗi người Huế sống mà thiếu hoa. Có lần tôi về làng hoa giấy Thanh Tiên. Một bà lão mới kể lại "đầu đuôi câu chuyện". Nguyên trước đây làng cũng chuyên trồng hoa nhưng có mấy năm lụt lội mất mùa dân làng không biết lấy đâu ra hoa để bán để sinh sống mà người Huế thì không thể thiếu hoa vì thế dân làng nghề mới nghĩ cách ra làm hoa giấy. Sự tích làng nghề ra đời trong ý thức tồn tại đồng thời để thỏa mãn một nhu cầu bức thiết của người mua. Từ lâu đời người Thanh Tiên đã góp phần cho bức tranh hoa xứ Huế thêm phong phú sắc màu tươi vui rộn ràng khi mùa xuân đến.

            Với hoa là tình cảm bầu bạn tri kỷ gần gũi mà thân kính. Lang thang qua nhiều vùng quê từ những nhà quyền quý đến ngôi nhà của nông dân trong ý thức tạo lập không gian nhà vườn của người Huế thì hoa chiếm vai trò chủ đạo trung tâm là hồn vía của bản thiết kế nhà vườn. Người ta trồng hoa ở những nơi trang trọng : Trồng làm bóng mát trên giàn ở cổng ngõ trên lối vào sau bức bình phong bên cạnh hồ nước trước sân. Hoa nhài hoa mộc... bé xíu để chủ nhân thả vào ấm trà buổi sớm cho hương thơm thoang thoảng từ sương cỏ đất trời. Một mùi hương tao nhã dễ làm con người có chút bình tâm. Người Huế trồng hoa theo một thói quen mặc định mang một ý nghĩa sâu xa. Hồ nước trước sân mà thiếu đi hoa sen hoa súng thì mất đi sức sống. Hoa trang đỏ nghiêm trang thường trồng ở nghĩa trang để tỏ niềm luyến tiếc. Hoa tỷ muội tường vi khép nép dưới khung cửa sổ bên phòng các khuê nữ phượng đỏ rưng rưng trên đường đi học. Ngô đồng thường trồng trong đại nội. Người ta vẫn coi ngô đồng là nỗi lòng của mùa thu (ngô đồng nhất diệp lạc thiên hạ cộng từ thu) để mỏi mòn chờ đợi đến sau tiết xuân mới ra hoa. Hoa hòe lại ở chốn trường thi bởi đó là loài hoa luôn làm xao động giấc mơ đèn sách của sĩ tử  (hòe hoa hoàng cử tử mang)...

            Trong thế giới thi ca nhạc họa nghệ thuật của xứ Huế thì ai cũng hơn một lần nhắc đến hoa trong một sự gắn bó quặn thắt đến nao lòng. Ở mỗi lãnh vực khó kể hết những tác giả vốn đã xem hoa như một đối tượng để tỏ lòng. Mỗi loài hoa với mỗi người mang một nỗi tâm sự riêng. Nửa đêm bước chân về gác nhỏ bỗng nhớ tới hoa tường vi là ký ức về một hình bóng kỳ nữ xa xăm. Mười năm hoa muối bay rì rào là con đường chao nghiêng áo lụa một thời Đồng Khánh (TCS). Với Hoàng Phủ Ngọc Tường là nỗi ám ảnh thơ mộng về loài hoa phù dung mong manh như kiếp người. Hoa sầu đông tim tím/ Nở canh chừng bông búp nhỏ thơ (Trần Phú Nhạc) là tình cảm thơ ngây trong trắng của thời mới lớn... Mỗi loài đều mang trong mình những số phận riêng một tiếng nói thầm thì với nhiều cung bậc khác nhau là nỗi niềm của đất đai cây cỏ dâng tặng cho con người. Vì thế người Huế sống luôn có trách nhiệm với hoa. Họ chăm sóc hoa như vun đắp một niềm vui sống. Hoa trở thành biểu tượng trong tâm thức văn hóa của con người : Bằng lăng da diết một màu tím Huế khắc khoải u hoài hương thơm ngọc lan trốn tìm giữa đêm sâu của khu vườn. Dân giã vàng xưa hoa cải đôn hậu thật thà bình dân đại thọ dấu rêu hoang lạnh của hoa sứ ở hoàng cung thanh tịnh nghiêm trang để thờ cúng là hoa sen...

            Hoa còn là lịch sử với ý nghĩa thẩm mỹ gắn chặt với hiện thực. Tố Hữu viết "Tổ quốc máu và hoa" với những vần thơ của một thời lửa cháy. Đông Trình từng coi giàn hoa giấy bên hiên Tổng Hội (22 Trương Định) tượng trưng cho lòng quyết tử bền gan dũng chí của phong trào đấu tranh sinh viên học sinh. Trở về gặp nhau trong ngôi nhà cũ/ Hoa máu tháng tư nở thắm trên đầu/ Hoa giấy đỏ như khăn hồng quyết tử/ Hoa và người rạng rỡ nhìn nhau...

            Trong những câu chuyện về hoa người con gái Huế thường thể hiện sự nhạy cảm hiểu biết và thầm hãnh diện về những giấc mơ hoa của riêng mình. Người ta từng ví người con gái đẹp mà vô duyên như đóa hải đường có sắc không hương. Họ yêu hoa bằng sự ngưỡng mộ và lòng tôn kính. Tôi ngỡ rằng Cao Bá Quát một con người Dọc ngang nào biết trên đầu có ai từng một đời chỉ biết lạy hoa mai (nhất sinh đê thủ bái hoa mai) câu thơ có thể viết trên đất Huế bởi chịu ảnh hưởng từ niềm tôn kính hoa mai của người đất kinh kỳ. Người tri thức vẫn thích câu thơ của Mãn Giác Thiền Sư viết về hoa mai đêm qua sân trước rung hoa mai... bởi đã tìm thấy trong cái nhìn đầy chất thiền ngộ vô thường của bản chất loài hoa này.

            Hoa đỗ quyên vốn sống trên núi ở độ cao trên 1.000m. Ở Bạch Mã đỗ quyên mênh mông chi địa đỏ rực dặm dài quanh thác. Thương da diết cái màu đỏ thắm mà vội đặt tên là thác đổ quyên. Nhiều người đã bỏ công quyết làm sao để sở hữu cho được màu hoa đưa về chốn thị thành. Nhằm thay đổi dần môi trường nhiệt độ thổ nhưỡng người trồng hoa mới đưa dần cây con xuống lưng chừng núi một thời gian sau đó tiếp tục đưa xuống Cầu Hai rồi mới đem về Huế. Đưa nhiều đợt mà có khi chỉ sống sót được một hai cây. Hình như đất trời không nở phụ lòng người yêu hoa xứ Huế nên cuối cùng cuộc "hạ sơn" của đỗ quyên cũng thành. Câu chuyện cất công để trồng hoa đầu tiên phải kể đến là vua Minh Mạng. Vì quá mê ngô đồng nhà vua đã cho người lấy giống từ Trung Quốc mang về trồng. Hiện nay qua dâu bể thời gian chỉ còn được vài cây. Để tiếp tục thực hiện ước mơ Ô hay buồn vương cây ngô đồng (BK) ấy Công ty Cây xanh đang triển khai nhân giống để trồng ngô đồng. Nên nhớ ngô đồng là một trong mấy loài hoa đặc trưng của đất kinh xưa. Nhớ mấy năm trước cứ vào độ sau tiết xuân hoạ sĩ Bửu Chỉ thường xuất hiện uống cafe gần công viên Tứ Tượng. Hỏi ra chỉ vì mê đắm với màu tím nhạt vương vấn của hoa ngô đồng. Hết mùa hoa họa sĩ cũng thay đổi chỗ ngồi biến đi đâu mất.

            Đã từng có một cuộc triển lãm mỹ thuật của các nữ họa sĩ tại Huế mà tranh trưng bày duy nhất với chủ đề là hoa. Các tác giả đã tung tẩy sắc màu trong cảm xúc dâng hiến tất cả cho hoa cho một tình yêu miên viễn bất di bất dịch... và lạ lùng chưa một cô giáo trường Quốc học từng bỏ cả tuổi thanh xuân của mình để sưu tầm tích lũy tập hợp thành các loài hoe ép rồi đem đi triển lãm khắp cả nước. Dẫu thời gian có làm màu sắc phai nhạt nhưng cần phải được lưu giữ vì với cô đó là kỷ niệm là nỗi nhớ thiên thu tấc lòng sâu kín là tình yêu đến kiệt cùng của đời người. Ở một nơi mà hoa đã cận kề thân thiết sâu nặng trong góc khuất tâm hồn thì thử hỏi có người Huế nào đi xa mà không mang theo một nỗi nhớ về hoa.

            Trong những giải thích trung nguyên gốc gác của từ Huế có một lập luận rằng Huế do từ Hoa vì kỵ húy đổi thành huê đọc trại thành Huế. Trong một ý niệm có tính triết học cũng vừa lãng mạn tôi lại nghiêng về lối giải thích này bởi nói cho cùng với người Huế : Thành phố Huế là thành phố Hoa.

More...

CHIỀU CÚC QUÌ SƠN TỰ

By Hồ Sĩ Bình

 

                                                           


            Sương thơm mùi cúc quì

            Vàng đưa màu óng mật

            Nắng lùa hoa trôi mãi

            Chút ngỡ ngàng thiên di

            Ngày ta về phố huyện

            Em vẫn còn thơ dại

            Ta lỡ đời long đong

            Nẻo trần kia quá chật

            Nghĩ chi chuyện tang bồng

            Chông chênh chiều Sơn tự

            Aó bay giữa mùa hương


            Bởi vì em là bụi

            Trôi đi từ thuở nọ

            Đoái hoài chi cơn gió

            Lơ ngơ giữa đồi nương

            Thôi lỡ về núi cũ

            Ngồi đối mộng trăm năm

            Mưa ngoài ngàn bóng rũ

            Cứ khuya khoắt dội về

            Tiếng thơ hoài đồng vọng

            Câu hát dài lê thê

            Xa rồi không với được

            Màu cúc quì mông mênh


            Bởi vì ta trở lại

            Phố xưa giờ xa lạ

            Trong mắt người hư không

            Hoa cúc quì lả chả

            Rụng như đời sắc không

            Em bây giờ là gió

            Nhớ nhau để phiêu bồng.


                   
                  HỒ SĨ BÌNH

More...

NGUYỄN NGỌC HƯNG - TỪ MỘT GÓC TRỜI YÊU CẢ BAO LA

By Hồ Sĩ Bình

 


Ở Chợ Chùa Nghĩa Hành Quảng Ngãi có một nhà thơ đã 23 năm nay nằm một chỗ vì liệt cả người. Nhờ mẹ bạn bè anh em văn nghệ người yêu thơ... nhất là việc sáng tác thơ ca anh đã vượt qua đau đớn tủi cực tuyệt vọng bởi bệnh tật để tìm niềm vui sống. Anh là Nguyễn Ngọc Hưng.



Nỗi đau bệnh tật


Nguyễn Ngọc Hưng sinh năm 1960 là "sản phẩm" duy nhất của mối tình vụng dại giữa một kép hát trên đường lưu diễn với một người phụ nữ mê tuồng trên đất Nghĩa Hành Quảng Ngãi.


Hưng sinh ra thì người cha đã biền biệt tăm hơi anh lớn lên giữa bàn tay gieo neo của mẹ. Bao nhiêu tình thương người mẹ dành hết cho con dù nghèo mẹ vẫn gắng nuôi dưỡng con học hành đến nơi đến chốn. Sau này Hưng nhớ lại cái thời khốn khổ đến trường: Mười bốn cây số mùa xuân xuôi ngược/Manh áo nghèo mưa nắng bạc tóc hoe/Không ngăn nỗi hồn nhiên chim sáo hót/Chiều vô tư ngõ đom đóm lập lòe. Hưng cố gắng học thật giỏi để không phụ tấm lòng của mẹ. Năm 1983 anh tốt nghiệp thủ khoa toàn trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn được nhà trường giữ lại làm cán bộ giảng dạy và làm nghiên cứu sinh. Mọi thứ tưởng xuôi chèo mát mái hứa hẹn một tương lai sáng sủa vậy mà bỗng dưng đôi chân chưa kịp một lần bước lên bục giảng bỗng yếu hẳn đi đứng trở nên khó khăn. Năm đó mẹ đưa anh ra điều trị tại Bệnh viện C Đà Nẵng ròng rã suốt 4 tháng trời. Bệnh không hề thuyên giảm mà có chiều hướng nặng hơn đôi chân càng teo lại nhức buốt toàn thân các bác sĩ lắc đầu cho biết bệnh này trên thế giới còn phải bó tay.


Mẹ đưa con ra viện trở về nhà. Còn nước còn tát mẹ bán hết của cải trong nhà hễ ai mách bảo ở đâu có thầy thuốc nam giỏi là mẹ cõng con đi nhưng hầu như chẳng có kết quả. Rồi mẹ bỗng sinh bệnh nặng sau nhiều năm tháng buồn tủi kiệt sức bà đã ra đi vĩnh viễn. Đến lúc này Hưng càng bơ vơ hơn. Một phụ nữ buôn bán ve chai thấy thương hoàn cảnh của Hưng đã bàn bạc với chồng con rồi quyết định đưa Hưng về nuôi dưỡng. Người phụ nữ có trái tim nhân hậu ấy là dì Mười mà nhà thơ vẫn thường nhắc đến bằng tất cả niềm tri ân. Anh coi đó là một bà tiên trong cổ tích xuất hiện vào đúng lúc bế tắc nhất của đời mình. Gia đình dì Mười cưu mang nhà thơ bất hạnh suốt 3 năm ròng không chỉ cơm áo thuốc men mà còn cất công đi tìm thầy thuốc về chữa bệnh cho anh.


Nhưng sự nghiệt ngã cứ tiếp tục vùi dập số phận nhà thơ. Đến lúc này Hưng không thể chống gậy dù chỉ để đi lại trong nhà. Rồi bệnh đột ngột nặng hơn hai chân cứng đơ không thể cử động hai bàn tay teo lại những ngón tay thì co quắp. Bạn bè khuyên Hưng vào ở hẳn trong trạm y tế xã. Ở đây có thuốc men có người chăm sóc được hưởng trợ cấp khó khăn của huyện mỗi tháng 80.000 đồng và nhất là ở gần nhà Xuân Anh một người bạn tốt bụng đang làm trạm trưởng trạm y tế xã. Bạn bè còn mở một cái quán nhỏ để có thêm tiền lo lắng cho Hưng giúp Hưng có nhiều cơ hội để gặp gỡ hàn huyên tâm sự với anh em văn nghệ những người yêu thơ xem như đó là nguồn sinh lực để nhà thơ quên đi buồn phiền và nỗi đau bệnh tật.


Thời gian này thật hạnh phúc cho Hưng vì được sống giữa sự đùm bọc yêu thương của mọi người nhất là thơ anh đến với công chúng được bạn đọc cổ vũ sách in ra với lượng phát hành lớn ít nhiều giúp nhà thơ trang trải nợ nần. Lãnh đạo UBND huyện Nghĩa Hành đã quyết định cấp cho anh một mảnh đất tại thị trấn Chợ Chùa bạn bè thì tiếp sức tiền để dành nhờ phát hành thơ cộng với vốn liếng dành dụm của vợ chồng bạn Xuân Anh gom góp lại để xây một ngôi nhà khá khang trang Hưng và vợ chồng bạn Xuân Anh ở chung với nhau.


...Vịn câu thơ đứng dậy


Hai mươi ba năm lao đao vất vưởng với cơn bệnh hiểm nghèo nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng đã vượt qua nhờ vào tình yêu thương đùm bọc đầy nghĩa tình của mọi người chung quanh trong đó thơ ca góp một phần quyết định nhất là những khi anh đã tuyệt vọng muốn tìm đến cái chết. Thơ đem lại cho anh cơm áo nhờ phát hành được sách. Quan trọng là niềm vui sáng tạo nỗi lòng thiết tha gắn bó cuộc sống niềm tin vào chính mình sự thăng hoa tâm hồn để quên đi nỗi đau thể xác.


Đến nay Nguyễn Ngọc Hưng đã cho ra đời 8 tập thơ (Cầm sợi gió trên tay Lời ru trắng Lửa trời nhóm bếp Còng con tìm mẹ Lá non Gọi trăng Lửa xanh thầm Từ khi có phượng) với gần 10 giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam Báo Thiếu niên Tiền phong Báo Tài hoa trẻ Văn nghệ Gia Lai Tạp chí Cửa Việt được tặng thưởng huy chương Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật và giải thưởng quốc tế về thơ của người tàn tật.


Trong những tác phẩm đã xuất bản tác giả dành phần nhiều cho mảng thơ thiếu nhi với những dòng thơ nồng ấm thương yêu mà ở đó bằng hồi ức chính mình thế giới tuổi thơ được tái hiện với vẻ ngây thơ tinh khiết đến lạ lùng. Đọc thơ thiếu nhi của anh có cảm tưởng như nhà thơ giành hết đau thương đã trải nghiệm cho riêng mình còn tất cả hạnh phúc dành để cho các em.


Dù số phận nghiệt ngã nhưng lạ một điều: những vần thơ được viết trên giường bệnh nằm ngửa mà viết viết nhọc nhằn dưới những ngón tay co quắp đau đớn mà vẫn ấm áp chắt chiu niềm vui và tin yêu vào con người: Tôi lại về với miền Trung nắng gió/Học cây xương rồng... bám cát trổ hoa... Cho dẫu cây đời trăm năm không kết trái/Ai cấm được vô hình nụ hạnh phúc đơm hoa. Và thật trong trẻo hồn nhiên: Phượng vẫn đỏ như từ khi có phượng/Gió vẫn mềm tựa thuở gió sơ sinh...


Nhà văn Tạ Duy Anh tâm sự: "Mỗi khi cầm tập sách mới của Nguyễn Ngọc Hưng trên tay không hiểu sao tôi lại nghĩ ngay đến một chiến tích thuộc về con người. Vâng trong khổ đau thi sĩ đã vịn câu thơ đứng dậy. Thơ đã đồng hành trong cuộc chiến đấu với bệnh tật để vinh danh cho chiến tích của con người. Hơn thế nữa chính cuộc đời anh thơ anh đã dạy cho chúng ta về tình yêu cuộc sống hơn bất cứ người hạnh phúc nào khác".


Hồ Sĩ Bình

More...

RƯỢU LÀNG CHUỒN

By Hồ Sĩ Bình

 

Rượu làng Chuồn
 


Rượu làng Chuồn có từ lâu đời xưa nay vẫn được xếp vào loại "đệ nhất danh tửu" của đất thần kinh. Khách về thăm Huế trong những khi thù tạc người Huế thường đem loại rượu này thết khách




Tên làng Chuồn là cách nói tiếng Nôm của làng An Truyền một ngôi làng cổ có lịch sử hơn 600 năm. Làng cách Huế khoảng 10km theo hướng đông bắc gần phá Tam Giang. Làng nổi tiếng với hai nghề truyền thống là nấu rượu và làm bánh tét. Vì thế đến làng khắp thôn xóm đều thơm mùi củi đuốc. Ấn tượng nhất là ngôi đình được xây dựng từ khi lập làng sau mấy trăm năm được tôn tạo tu sửa đình vẫn giữ được nét trang nghiêm bề thế với lối kiến trúc triều Nguyễn được công nhận là di tích lịch sử văn hoá của quốc gia.


Không hiểu sao tôm cá vùng này cũng nổi tiếng là thơm ngon. Có người cho rằng nhờ vào nguồn nước thổ nhưỡng và địa hình của làng với nhiều ao hồ gần đầm phá. Có thể điều đó cũng lý giải được một phần vì sao rượu làng Chuồn có hương vị đặc trưng không lẫn được giữa cơ man các loại rượu dân gian khắp Huế.




Hiện làng An Truyền có chừng 300 người làm nghề với hơn 100 lò rượu gia đình suốt ngày đêm đỏ lửa. Không khí xóm nấu rượu gần đình làng không hề yên tĩnh mùi rượu cứ thoang thoảng ra tận đầu ngõ. Đến thăm các lò rượu mới thấy để có một mẻ rượu ngon người làng Chuồn đã dồn bao công khó cần mẫn làm lụng và nhất là cái tâm của người làm nghề được tiếp truyền từ bao thế hệ nay. Như để giữ cái "thương hiệu" của làng nghề.


Giải thích vì sao mà rượu làng Chuồn có hương vị khá riêng như vậy cụ Nguyễn Văn Rạng 72 tuổi gia đình trải 3 4 đời làm nghề nấu rượu cho biết: Thứ nhất là nhờ nguồn nước tại làng. Rượu ngon phải biết cách chọn gạo phải là gạo thơm. Thật ra ngày trước người làng Chuồn làm rượu bằng loại gạo lức đỏ đầy cám nhưng vì hoàn cảnh và điều kiện ngày nay loại gạo này trở nên khan hiếm và đắt nên phải thay thế. Ông Rạng nhớ lại: Những năm sau giải phóng cả nước thiếu gạo nhiều nơi thay bằng sắn (khoai mì) hoặc mía thậm chí có nơi còn pha thêm cồn phân urê để tăng nồng độ. Còn người làng Chuồn dứt khoát không làm thế dĩ nhiên rượu có loại nước nhứt nước nhì nước ba... Tuỳ yêu cầu người tiêu dùng mà đáp ứng.



Đến thăm các lò rượu chủ nhân thường hữu hảo mời khách loại rượu tâm đắc nhất của gia đình chỉ cần đi một vòng mỗi nhà mỗi ly ra về ai cũng ngây ngất. Thực hư thế nào không biết có người từng "uống rượu khắp thế gian" cứ buột miệng khen rượu làng Chuồn có mùi vị đầm phá...


Nhạc sĩ Văn Cao trong một lần về Huế được đi chơi suốt đêm trên sông Hương phá Tam Giang và nhâm nhi rượu làng Chuồn. Ông bảo: "Được... Dày!...". Chỉ một cái gật gù ngắn gọn trong buổi tao ngộ ấy.



Hồ Sĩ Bình

More...

THĂM LÀNG HUẾ

By Hồ Sĩ Bình

 11/04/2007



Thừa Thiên-Huế vẫn tồn tại nhiều ngôi làng tiềm ẩn sức sống mãnh liệt của truyền thống văn hoá làng được tích tụ và lưu truyền từ xưa đến nay. Trong đó làng Dương Nổ còn mang đầy tính đặc trưng làng Huế rõ nét nhất. Ngoài ra ngôi làng còn có hai di tích văn hoá lịch sử cấp quốc gia đáng để du khách tham quan: Đình làng Dương Nổ và Nhà lưu niệm Bác Hồ.


Chợ quê


Cách Huế chừng 7km trên đường về Thuận An làng Dương Nổ nằm bên dòng sông Lợi Nông hiền hòa yên ả với nhiều bến nước thơ mộng. Từ tỉnh lộ qua khỏi cầu Dương Nổ là chợ nằm cạnh đình làng đối mặt với dòng sông trên bến dưới thuyền lộ rõ ý thức tổ chức làng theo cách nhìn phong thuỷ của người xưa. Du khách sẽ khá thú vị khi bắt gặp những hình ảnh xưa cũ của chợ quê Huế với những mặt hàng và lối mua bán gắn chặt người dân quê thuở trước. Này là hàng quán của bà mẹ già với vài miếng cau khô mấy lọ phẩm hồng (HC) những buồng cau Nam Phổ thơm thảo tình duyên. Những tranh dân gian của làng Sình bánh tráng bánh đúc dân dã tò he kẹo xóc kẹo mè cho trẻ em những chú heo đất xanh đỏ mộc mạc ngô nghê và nhất là hai loại hoa đặc trưng vườn Huế không thể thiếu: hoa vạn thọ và phượng tây đỏ dùng trên bàn thờ cúng. Những ngày giáp tết tưng bừng chợ quê xôn xao vui nhộn đàn bà áo dài đàn ông cũng khăn đóng áo dài đi chợ quê như trẩy hội có thêm câu đối tết đỏ hồng khắp chợ.




Chợ và đình hướng mặt ra sông theo cách nhìn phong thuỷ



Đình làng Dương Nổ được coi là tiêu biểu về phong cách kiến trúc của đình làng Huế được dựng từ thời vua Lê Thánh Tôn (1471) với cấu trúc ban đầu chỉ tranh tre nứa lá. Đời Gia Long năm thứ 7 (1808) Khoái Châu quận công Nguyễn Đức Xuyên một người làng thành đạt đã hỗ trợ để dân làng xây đình. Đình được dựng 5 gian 3 chái lợp ngói âm dương gồm toà đại đình sân đình cổng đình hàng trụ biểu bến đình sân đình và toà đại đình trên một khu đất âm xuống thấp hơn so với chung quanh vòm mái phía hai đầu cong lên đứng xa trông như hình chiếc thuyền đang lướt sóng. Về mặt kiến trúc đó là mô thức biểu hiện nền văn hoá biển đậm nét.




Đình làng

Đình làng Dương Nổ không chỉ có chức năng họp làng lưu giữ hương ước thờ tự người có công mà còn là nơi nhằm tôn vinh sự học của vùng đất nổi tiếng về khoa bảng. Bởi thế trong lễ hội truyền lô của Festival Huế 2006 sau khi lễ xướng danh tại cửa Ngọ Môn Huế các tân khoa được vinh quy bái tổ về đình làng Dương Nổ. Đây là sự kiện mà người Dương Nổ lấy làm tự hào bởi truyền thống hiếu học và khoa bảng của mình.



Làng Dương Nổ


Làng Dương Nổ còn một di tích lịch sử quan trọng đó là ngôi nhà lưu niệm Bác Hồ. Ngôi nhà 3 gian 2 chái đơn sơ với chè tàu hàng cau hoa đại được giữ lại gần như nguyên vẹn kể cả những đồ dùng trang trí trong nhà. Năm 1898 ông Nguyễn Sinh Sắc sau lần thứ hai thi hội không đỗ đã trở về đây ở và mở lớp dạy học. Thời ấy cụ Sắc sống với hai con trai là Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung (tên khai sinh của Bác Hồ). Cậu bé Nguyễn Sinh Cung lần đầu tiên trong đời được thân phụ dạy chữ Hán. Tuy thời gian sống ở đây chỉ có hai năm nhưng vẫn có nhiều gắn bó: cây đa nơi đình làng là nơi Bác thường đến chơi và đọc sách bến Đá nơi cả gia đình thường tắm giặt và sông Phổ Lợi một thời chú bé Nguyễn Sinh Cung bơi lội.

Dương Nổ - ngôi làng Việt cổ với nhiều tập quán sinh hoạt có tính văn hoá truyền thống của Huế có nhiều di tích để tham quan. Cảnh sắc với đường làng bên sông những hàng cau trải dài bên những hàng chè tàu cắt tỉa cẩn thận. Hình ảnh cây đa bến cũ con đò với những mái nhà xưa cũ luôn tạo nhiều cảm xúc cho những ai còn nặng lòng về quê hương làng mạc của đất nước.

 

More...

CON ĐƯỜNG ÁO LỤA

By Hồ Sĩ Bình



Nhà thơ Phan Phụng Thạch đứng bên ô cửa trường Đại học Văn khoa ngắm con đường Lê Lợi rồi ngẩn ngơ đợi giờ tan trường và viết: Khi trở lại con đường xưa áo lụa/ Hàng cây sao vẫn đứng đợi em về/ Em không về nên cây buồn lá úa/ Anh cũng buồn giữa nắng chơ vơ .
 

Đường học trò và đường của bốn mùa


Gọi là con đường áo lụa bởi mãi mãi nó thuộc về thế giới học trò. Từ thời Pháp thuộc áo tím Đồng Khánh bâng khuâng một màu rất Huế. Sau này đổi thành màu trắng. Giờ tan học đường Lê Lợi ngập tràn áo trắng bồng bềnh như dòng sông… lụa rồi lan toả khắp nơi. Áo trắng ngược Nam Giao Bến Ngự về Vĩ Dạ qua Tràng Tiền. Áo trắng xuống đò Thừa Phủ ngược về Kim Long Thành Nội. Hình ảnh áo lụa thinh không môi hồng đào ríu rít như đàn chim trong nhạc Trịnh cũng thuộc về nơi này.





"Nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa... Nữ sinh Đồng Khánh bây giờ là em"


Hai bên đường là hàng cây long não cây muối phượng và những công viên đầy cây lá dọc bờ sông những thảm cỏ nối đuôi nhau. Thiên nhiên khắc hoạ cho con đường thêm thơ mộng. Những công trình kiến trúc kiểu Pháp cổ kính hài hoà góp phần tạo nên những nét đẹp lộng lẫy nhưng trầm mặc. Cây cỏ bốn mùa thay đổi. Mùa xuân hoa muối trắng bay rì rào rực rỡ hoa hoè màu vàng đánh thức những giấc mơ đèn sách trong mùa thi cử (hoè hoa hoàng cử tử mang). Mùa hè phượng đổ lửa lên trời xanh và… rưng rưng ngày chia tay. Khi lá cây ngô đồng bên vườn Tứ Tượng rụng báo hiệu mùa thu về (Ngô đồng nhất diệp lạc Thiên hạ cộng tri thu). Đông đến những cây bàng nhuộm màu đỏ thẫm rồi rụng hết để chở những nỗi buồn lê thê của từng cơn mưa xứ Huế.


Không những thế Lê Lợi là con đường của lịch sử. Ngôi trường Quốc Học gắn liền với nhiều tên tuổi như Nguyễn Sinh Cung Trần Phú Phan Đăng Lưu Phạm Văn Đồng Võ Nguyên Giáp... và nhiều nhà văn hoá lớn nhà thơ nhà văn...


Sau này Lê Lợi lại là con đường của… học đường: Luật khoa Văn Khoa Khoa học sư phạm Trường Trung học Trần Hưng Đạo Kiểu Mẫu. Con đường đã từng kiến diện những cuộc xuống đường biểu tình bãi khoá tuyệt thực đốt xe Mỹ của sinh viên học sinh Huế. Mỗi gốc cây góc phố còn giữ mãi ký ức những ngày bão nổi ấy. Lá muối rụng vàng đường lên Thừa Phủ/ Nhạt nhoà nước mắt áo mẹ tìm con (Võ Quê).



 Ảnh : Thái Phiên 

Đường đi như sông Hương về gặp Huế


Hoà bình đường Lê Lợi vẫn trắng trong màu áo lụa học trò của nữ sinh Hai Bà Trưng Quốc Học. Những biền bãi ven sông xanh mướt luôn tạo những góc nhìn đầy mê hoặc bởi sự đổi sắc không ngừng của sông Hương và bên kia sông những đền đài thành quách màu gạch u trầm. Như một cuộc trùng phùng đầy thú vị khi sông Hương về gặp Huế đã trôi chậm kéo hình cánh cung như một dải lụa mềm. Đường Lê Lợi từ ga kéo đến Vĩ Dạ cũng sóng bước chung đôi.


 Ảnh : Thái Phiên


Cho nên đi trên đường luôn có cơ hội để nhìn ngắm sông Hương một cách trọn vẹn. Chỉ cần vài bước  lữ khách có thể rong chơi trên thuyền cảm nhận nền văn hoá dân gian đầy mô tê chi rứa...


 
Bởi thế đến Huế chỉ cần lang thang trên đường Lê Lợi là đủ thấm cái hồn xưa cũ của đất cố đô

 

More...

TÂM CẢM VỚI RƯỢU CẦN

By Hồ Sĩ Bình

 

Hồ Sĩ Bình

 

 

 

Mười lăm năm trở lại Tây Nguyên bạn bè đồng môn cũ thời mới ra trường cùng nhau lên miền núi công tác hẹn gặp mặt tại một nhà rông Tây Nguyên. Bữa ăn toàn những món đặc sản miền núi nhân viên phục vụ ăn mặc đều là trang phục thổ cẩm của đồng bào dân tộc và thức uống dĩ nhiên là rượu cần. Nhưng vị rượu cần sao mà nhàn nhạt nó như một loại đồ uống lên men ngòn ngọt vô duyên thế nào ấy không phải như ngày trước tôi nói. Bạn bè gạt ngang: Thôi mà bạn thời buổi thị trường rượu cần cũng là thứ hàng hóa mất rồi cứ uống đi loại nào cũng túy lúy càn khôn cả...

 

Vâng dẫu biết thế nhưng trong ký ức tôi vẫn dậy lên men thơm của một thứ rượu cần ngây ngất hào sảng của một thời lang thang gần 10 năm qua nhiều buôn làng. Một thứ hương vị còn thấm đẫm vị giác đến tận bây giờ nó ấn tượng như những gì mẹ đã cho ta ăn thời thơ bé không thể thay thế được.

 

Rượu cần phải được uống giữa buôn làng giữa nhà sàn. Uống ở nhà rông cao vút (người Bana Sê Đăng Gié Triêng...) nhà dài (người Êđê)... uống nhẩn nha suốt cả đêm với gió rừng chấp chới ngân nga giữa ngàn cây lá và sương khuya...

 

Tùy theo vùng rượu cần được ủ bằng cơm bắp khoai mì đã nấu chín rồi giã nát vo lại từng viên nhỏ và trộn với men. Có nhiều nơi thích ngọt trộn thêm chuối thích cay trộn ớt. Còn men là một thứ rất lạ do bàn tay của người vợ len lỏi vào rừng tìm hái những thứ lá có khi là vỏ cây rễ đem về để ủ. Loại men này dưới bàn tay tinh quái đầy ma thuật của người phụ nữ đã làm mê hoặc say đắm người chồng vốn là những người coi thú lang thang là một đam mê khó rời bỏ ẩn tàng trong máu thịt như bản tính tự nhiên (theo nhà văn Nguyên Ngọc loại lá cây này mang độc tính nhưng khi người vợ đem về trồng trong vườn nhà thì độc tính tự nhiên biến mất). Bởi vậy rượu cần trước hết là thứ nước uống cất lên từ "men say" của những huyền thoại đại ngàn. Thứ hai nó xuất hiện cũng bắt nguồn bởi tình yêu của vợ muốn quấn lại chồng với mong muốn "anh ơi anh ở lại nhà; ngây ngất cùng em".

 

Tuy vậy cần nhớ rằng tự bản thân rượu cần cũng chưa đủ sức tạo ra một sức mạnh cám dỗ mà cần có những thành tố khác để người thưởng thức được trọn vẹn hơn.

 

Bếp lửa đêm tối rừng núi cồng chiêng buôn làng già làng phụ nữ... là những thành tố để rượu cần trở thành một kỳ tửu đậm chất Tây Nguyên. Văn hóa vật thể hay phi vật thể đã tồn tại bao giờ cũng thế theo cách cộng sinh tương hợp là tổng hòa các mối quan hệ... Uống rượu cần mà thiếu bếp lửa cũng là thiếu một "chất men" đời. Ở Tây Nguyên bếp lửa nhà nào cũng cháy đỏ suốt đêm. Uống rượu cần mà không có lửa đã mất hết một nửa thi vị. Những đêm lễ hội rượu và lửa đã hâm nóng cho điệu nhảy. Và tiếng cồng chiêng cứ thế mà vang vọng ngân xa như những nhát kiếm chém tạt vào mênh mông đêm tối...

 

Những ngày hội Pơ thi (lễ bỏ mả) lễ đâm trâu nhiều nơi đã sắp đầy trên sàn nhà hàng chục ghè rượu. Người làng quây quần uống ngày này qua ngày khác. Uống say thì ngủ tỉnh lại cứ ngồi tiếp tục.

 

Trở lại Tây Nguyên lần này tôi được tham dự một buổi trình diễn âm nhạc cồng chiêng tại buôn Kossier. Đội cồng chiêng của buôn được xem là tiêu biểu cho loại hình nghệ thuật này của miền Trung Tây Nguyên đã đi biểu diễn nhiều nơi ở nước ngoài. Vẫn bếp lửa bập bùng và đầy đủ các nghệ nhân điêu luyện nhưng thú thật tôi cảm thấy thất vọng vì buôn làng Kossier gần Buôn Ma Thuột nên đã bị đô thị hóa mất rồi. Âm nhạc cồng chiêng thay vì được biểu diễn trước ngôi nhà dài truyền thống lại tổ chức trên cái sân xi măng trước ngôi nhà bê tông cốt thép. Trong buổi diễn ấy còn có một số du khách nước ngoài. Làm sao họ có thể cảm nhận một cách sâu sắc được nền âm nhạc đầy tính hoang dã núi rừng trong một bối cảnh như thế !

 

Rượu cần nếu được coi là một loại văn hóa ẩm thực Tây Nguyên thì cần phải được thưởng thức trong một không gian tâm cảm với đầy đủ các thành tố của cuộc sống Tây Nguyên như đã nói còn nếu không nó sẽ tự đánh mất mình.

 

Thứ Bảy 22/10/2005

Hồ Sĩ Bình

Việt Báo (theo Thanh Niên)

More...

HẢI SẢN ĐẤT HOA HỒNG

By Hồ Sĩ Bình

  

Nhiều người nói rằng khắp mấy tỉnh ven biển miền Trung thì hải sản ở Đồng Hới là phong phú và tươi ngon nhất là vùng cửa sông Nhật Lệ. Đến thị xã hoa hồng (tên gọi trước đây của Thành phố Đồng Hới) này bạn chỉ cần ngồi đâu đó trên những dãy kè đá bên sông là có thể cảm nhận và thưởng thức món biển đúng như người ta nói.


 

  Mực nướng

Thiên nhiên biển trời đã ưu ái dành tặng cho vùng đất này những miếng ngon vật lạ. Mực cá tôm thơm ngon ngọt. Con hàu nghêu sò huyết lớn hơn nơi khác hăm hắp nước lắc lự ngọt lìm. Cá mú cá hố cá chim cá bã trầu cá hồng cá chình cá hanh… tươi ngon. Vùng cửa sông nên có đủ các loài cá ở nước ngọt nước lợ biển. Khách từng trải nếm đủ sơn hào hải vị các miền vẫn cho rằng thức ăn ở đây có hương vị đậm đà riêng.
 



 Cá nướng

Cách chế biến cũng khác không rườm rà nhiều công đoạn mất thời gian. Tối giản những phụ gia màu mè không cần thiết. Nấu nướng thô mộc không phải hấp gia vị. Đây là cách ẩm thực của người ăn sóng nói gió ăn chắc mặc bền của người đi biển. Chỉ với một bếp than nhỏ là đủ cho hai kiểu: nướng và hấp. Cá tôm nghêu sò ốc cứ lấy trong thùng đựng ra rồi nướng hoặc hấp tuỳ theo yêu cầu của khách. Mực tươi để luôn túi mực mà nướng nên con mực ngọt sắc lại nhai vừa miệng. Đồ chấm thì đơn giản chỉ muối và ớt trái đập dập rất ít dùng nước chấm tương ớt. Cái ngon ở chỗ còn giữ được nguyên mùi vị đặc thù tươi roi rói của đồ biển. Nhiều con mực ống trước khi nướng trong suốt một màu rất đã mắt như thể vớt từ biển lên để dùng ngay.



 Chả đẻn

Mà cái thú ẩm thực bao giờ cũng gắn với không gian cả. Cảnh sắc ở cửa sông Nhật Lệ đẹp vô vàn. Biển trời mênh mông sông nước hữu tình gió lồng lộng thật mát mẻ. Thiên nhiên thơ mộng nhưng lại hoang sơ hùng vĩ. Con gái Quảng Bình lại nổi tiếng mặn mà cặp mắt đen lay láy nên lai rai chiều hôm ở cái nơi sông về gặp biển có phong vị riêng. Ở Đồng Hới còn có một đặc sản độc chiêu nữa là rắn đẻn. Loài rắn biển này cực độc nhưng thịt thì thơm ngon đáo để và rất bổ dưỡng. Đi đường xa mệt nhọc mà dùng món cháo rắn đẻn là khoẻ ra ngay. Còn tiết rắn thì hòa với rượu trắng uống vào là rần rần rạo rực nao nao trong người.


 

    Rượu huyết đẻn


Người Quảng Bình thích dùng rượu mà thưởng thức đồ biển thì phải uống rượu. Rượu gạo vùng này cũng có nhiều loại rất ngon. Rượu Lệ Thuỷ trong văn vắt nồng mà sâu đằm. Hình như cái khô khốc vùng truông cát nắng gió đã trút hết vào cái chất cay nồng bởi một thứ ma lực khó giải thích để cứ đụng vào là phải ngây ngất mềm môi.

 

 

 

Lần nào về Huế ghé thăm nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường như biết ý vợ anh - nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ bao giờ cũng để dành cho anh em một cút rượu Lệ Thuỷ có lẽ để nhớ mùi vị quê nhà của Quảng Bình chang chang cồn cát nắng trưa… Cuộc trò chuyện đôi khi lại nhắc đến sản vật có một không hai ở cửa sông Nhật Lệ như một mối cảm hoài của không gian tâm cảm ở người xa quê mong ngóng trở về…

  

More...

VỀ QUÊ UỐNG RƯỢU

By Hồ Sĩ Bình


Hồ Sĩ Bình

Tình cờ gặp hoạ sĩ Hoàng Đăng Nhuận ở quán cà phê bên sông Hương. Ảnh: Ng.Khắc Phước

Đi với Phước bạn thời trung học về Quảng Trị. Mới qua khỏi Mỹ Chánh trời bỗng u ám oi nồng Phước buộc miệng: Trời ủ nam. Cái cụm từ này thiệt lạ. Bởi ở 1 tỉnh nhưng Hải Lăng nói khác Thành Cổ Triệu Phong. Vùng mình thì gọi trời nam lu hoặc trời động nam chỉ cái thời khắc đang nắng nóng bỗng ủ dột báo hiệu những ngày đến là nắng nóng và gió nồm thổi mạnh.

Gặp Thái Đào ở thị xã Cu Tê kéo cả Đào về luôn quê. Mấy anh em bà con đã chờ sẵn để lai rai. Đào bỗng dưng tăng huyết áp nằm nghỉ. Cả Sanh Tạo đang ngồi nhậu với Kim (cũng bạn cũ ở Sài Gòn ra) ở Đông Hà nghe nhắn cũng kéo hết về quê nhập hội. Mình mệt quá vì đi đường vất vả ngủ khi nào không hay.

 

 Phước ngồi nhậu tiếp  với anh em bà con mình ở Triệu Thuận. Mình mệt qúa ngủ lúc nào không hay

 

Điện thoại réo Võ Thình nhắn lên thị xã lại nhậu nữa lạy Chúa. Ừ thì đi. Về quê gặp bạn bè mà không nhậu coi răng được. Nhấp môi vài hớp rồi tới luôn tuý luý càn khôn. Phước mệt ngủ lại với Thìn còn mình về làng.

 

 Tuý luý càn khôn

 

Tới nhà chưa kịp hoàn hồn mấy anh trong họ đã chờ sẵn nghe chú về mà…Ừ bày rượu ra uống tiếp chịu làm sao nổi mấy anh đều thuộc loại tửu đồ thượng hạng người nào cũng mang danh là “cây rượu trẻ” của làng dù đã U50 U60 cả hết. Em út xin ngủ trước (đã 1h30 Euro đã phát sóng)

 

 Cà-phê bên sông quê nhà

 

Sáng điện thoại réo Thìn Đào Phước đang uống café bên sông Thạch Thãng báo Thế Giới Ẩm Thực nhắn làm gấp bài cho chủ đề du lịch biển. Ly café bên sông quê nhà thật tuyệt vời phải giấu một chút bồi hồi. Đi thôi. Đưa Phước tạt về chợ Sải. Con người thơ ngây đến quái dị lời của T.D nói về Phước. Chút tình mốc meo mô thưở học trò…Thế cũng hay có cái để hắn náo nức về quê

 

 Hàng ngồi từ phải sang: Anh Hoa cô Du Lam anh Ninh

 

Vào thẳng Diên Sanh ghé thăm Võ Văn Hoa người làm thơ chưa hề biết mệt mỏi. Ngồi chơi ở Tri Âm Các Hoa kể chuyện blogger Quảng Trị có đại huynh Đức Tiên chủ xị Nguyễn Hoàn Phan Văn Quang trách…đành phải xin lỗi không ra Đông Hà được. Lại nhậu. Hoa kêu thêm Hường và Du Lam cái tên con gái Hải Lăng nghe dễ thương rượu phụ nữ dễ làm mềm môi quên đường về Hoa xuất khẩu ngay: Ngoài trời có gió nồm nam/ Trong quán đã có Du Lam đây rồi/ Uống Huda đách cần mồi…

 Sông Ô Lâu

Tiếp tục về làng của Phước. Làng Lương Điền bên sông Ô Lâu đẹp như một bài thơ nhỏ mình đến phát ghen. Mà có ngôi làng nào bên sông không làm ta xao xuyến huống chi con sông tình sử cây đa bến cổ con đò…

 

More...